Đồ án HCMUTE: Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất sumiri cá tra

Khám phá quy trình công nghệ sản xuất sumiri cá tra trong đồ án HCMUTE, cung cấp kiến thức và ứng dụng thực tiễn trong ngành thủy sản.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan cá tra

1.2. Giới thiệu cá tra

1.3. Giá trị kinh tế của cá tra trong và ngoài nước

1.4. Giá trị dinh dưỡng và thành phần hóa học của cá tra

1.5. Hiện trạng chế biến cá tra

1.6. Tổng quan surimi

1.7. Tạo gel của protein cá

1.8. Cơ chế tạo gel của protein

1.9. Các loại protein trong cơ thịt cá

1.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành gel từ protein cá

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu chính

2.2. Nguyên liệu phụ

2.3. Đường và sorbitol

2.4. Tinh bột biến tính

2.5. Thiết bị, dụng cụ thí nghiệm

2.6. Quy trình sản xuất surimi cá tra dự kiến

2.7. Nghiên cứu quy trình chế biến surimi

2.8. Quá trình rửa và phối trộn

2.8.1. Quá trình rửa

2.8.2. Quá trình phối trộn

2.9. Phân tích đánh giá chất lượng

2.9.1. Xác định hàm lượng protein thô

2.9.2. Xác định hàm lượng lipid

2.9.3. Xác định hàm lượng tro

2.10. Phương pháp vật lý

2.11. Ảnh hưởng độ chắc surimi khi thay đổi nồng độ muối và tinh bột

2.11.1. Nghiên cứu sự thay đổi độ chắc của surimi khi thay đổi nồng độ muối trong dung dịch rửa

2.11.2. Nghiên cứu sự thay đổi độ chắc của surimi khi mà hàm lượng tinh bột thay đổi

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả đánh giá chất lượng nguyên liệu

3.2. Kết quả tỉ lệ nguyên liệu thịt cá tra

3.3. Thành phần hóa học của fillet cá tra

3.4. Kết quả nghiên cứu quá trình sản xuất surimi

3.4.1. Tỉ lệ thu nhận surimi cá tra sau khi rửa với nồng độ muối khác nhau trong dung dịch rửa

3.4.2. Kết quả độ chắc gel của surimi cá tra khi thay đổi nồng độ muối trong dung dịch rửa

3.4.3. Kết quả độ chắc của surimi khi thay đổi hàm lượng TBN

3.4.4. Kết quả so sánh độ chắc của surimi khi sử dụng tinh bột và tinh bột biến tính

3.5. Đánh giá chất lượng surimi

3.6. Quy trình sản xuất surimi

3.6.1. Thuyết minh quy trình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quy trình sản xuất surimi cá tra

Quy trình sản xuất surimi cá tra tại HCMUTE được thiết kế nhằm tối ưu hóa chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Nghiên cứu sản xuất này không chỉ tập trung vào việc chế biến mà còn chú trọng đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng surimi. Các bước trong quy trình bao gồm lựa chọn nguyên liệu, rửa, phối trộn và định hình sản phẩm. Mỗi bước đều có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng cuối cùng của sản phẩm. Đặc biệt, việc rửa nguyên liệu giúp loại bỏ tạp chất và lipid không mong muốn, trong khi phối trộn các thành phần như tinh bột và muối sẽ ảnh hưởng đến độ chắc và độ dai của surimi. Theo nghiên cứu, việc tối ưu hóa quy trình sản xuất không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất.

1.1. Nguyên liệu và thiết bị

Nguyên liệu chính để sản xuất surimi cá tra bao gồm thịt cá tra tươi, tinh bột biến tính và các phụ gia như muối và đường. Việc lựa chọn nguyên liệu chất lượng cao là yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm cuối cùng. Thiết bị sử dụng trong quy trình sản xuất bao gồm máy rửa, máy trộn và máy định hình. Mỗi thiết bị đều được thiết kế để tối ưu hóa quy trình và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Sự kết hợp giữa nguyên liệu và thiết bị hiện đại giúp nâng cao hiệu suất sản xuất và chất lượng surimi. Theo nghiên cứu, việc sử dụng thiết bị tiên tiến không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao nhất.

1.2. Quy trình chế biến

Quy trình chế biến surimi cá tra bao gồm các bước chính như rửa, phối trộn và định hình. Trong bước rửa, nguyên liệu được làm sạch để loại bỏ tạp chất và lipid. Sau đó, trong bước phối trộn, các thành phần như muối và tinh bột được thêm vào để cải thiện độ chắc và độ dai của sản phẩm. Cuối cùng, sản phẩm được định hình và đóng gói. Mỗi bước trong quy trình đều cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Theo nghiên cứu, việc tối ưu hóa từng bước trong quy trình chế biến không chỉ giúp nâng cao chất lượng surimi mà còn tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường. Sản phẩm cuối cùng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn có giá trị dinh dưỡng cao.

II. Đánh giá chất lượng sản phẩm

Đánh giá chất lượng sản phẩm surimi cá tra là một phần quan trọng trong quy trình sản xuất. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm độ ẩm, hàm lượng protein, độ chắc và cảm quan. Việc xác định hàm lượng protein thô và lipid là cần thiết để đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn dinh dưỡng. Theo nghiên cứu, sản phẩm surimi có hàm lượng protein cao và độ ẩm thấp sẽ có chất lượng tốt hơn. Đặc biệt, độ chắc của sản phẩm cũng được đánh giá thông qua các thí nghiệm thực nghiệm. Kết quả cho thấy, việc điều chỉnh nồng độ muối và tinh bột trong quá trình sản xuất có ảnh hưởng lớn đến độ chắc của surimi. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát chất lượng trong từng giai đoạn sản xuất.

2.1. Các chỉ tiêu đánh giá

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng surimi cá tra bao gồm độ ẩm, hàm lượng protein, lipid và các chỉ tiêu cảm quan. Độ ẩm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến độ bền và thời gian bảo quản của sản phẩm. Hàm lượng protein cao không chỉ đảm bảo giá trị dinh dưỡng mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc và độ dai của surimi. Theo nghiên cứu, sản phẩm có hàm lượng protein từ 15% trở lên sẽ đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Ngoài ra, các chỉ tiêu cảm quan như màu sắc, mùi vị và độ dai cũng được đánh giá để đảm bảo sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Việc kiểm soát các chỉ tiêu này là cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

2.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy trình sản xuất surimi cá tra tại HCMUTE đã đạt được những thành công nhất định. Tỉ lệ thu nhận surimi cao, với độ chắc và độ dai đạt yêu cầu. Các thí nghiệm thực nghiệm cho thấy, việc điều chỉnh nồng độ muối và tinh bột trong quá trình sản xuất có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm. Sản phẩm cuối cùng không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà còn có giá trị dinh dưỡng cao. Theo nghiên cứu, việc tối ưu hóa quy trình sản xuất không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của surimi cá tra trong ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan cá tra 1. Giới thiệu cá tra - Họ: Pangasiidae - Tên khoa học: Pangasiandon hypophthalmus - Tên tiếng anh: Sutchi River Catfish - Tên tiếng việt: cá tra [1] Hình 1. Ở Việt Nam cá tra được nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long như: sông Tiền ( Vĩnh Xương, Hồng Ngự, Cao Lãnh,…), ồn hậu (An Phú, Cái Côn,.

Ngoài ra, ở Châu Á các nước nuôi cá tra phổ biến là Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan và Myanmar[15]. Cá tra thường ở tầng đáy, tầng giữa và tầng mặt, là loài di cư trong sông. Hiện nay ngành nuôi cá tra đang rất phát triển và cá tra chủ yếu được nuôi bằng các sản phẩm phụ từ nông nghiệp như: cám gạo, đậu nành hoặc các sản phẩm phụ từ quá trình chăn nuôi.[12] 7 do an Hình 2. Sơ đồ khu vực phân bố cá tra Cá tra có đặc điểm: thân dài, hẹp ngang, hình thoi, đầu nhỏ vừa phải; miệng rộng có răng sắt nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái; mắt tương đối to; có hai đôi râu.

Cá tra không có vẩy, da trơn, vây lưng thứ nhất có năm tia, vây thứ hai là vây mỡ , vây hậu môn có 39 tia. [1,4] Giống như tất cả các loài Pangasiidae, Pangasianodon Hypophthalmus là một loài cá ven sông có khả năng di chuyển đường dài hơn vài trăm kilomet giữa nới cư trú thượng lưu và môi trường sinh sản hạ lưu. Cá tra tự nhiên là loài ăn tạp, ăn tảo, thực vật bặc cao, động vật phù du và côn trùng, các con cá to thì cũng có thể ăn trái cây, giáp xác và cá. Cá có kích thước trung bình từ 800-1500 mm, khối lượng khai thác khoảng 800-1200gr/con, khối lượng tối đa có thể đạt được khoảng 44kg.

loài cá này là benthopelagic, thường sống trong khu vực nước có pH 6. Cá cái mất ít nhất ba năm để trưởng thành về khả năng sinh sản trong điều kiện nuôi (lúc đó cá nặng hơn 3kg), trong khi con đực thường trưởng thành trong năm thứ hai trong điều kiện nuôi. Một con cái trưởng thành 10kg có thể 8 do an đẻ hơn một triệu trứng. Cá tra mẹ ở tự nhiên thường sinh sản hai lần mỗi năm cách lần thứ nhất từ 6 – 17 tuần.[1,2,4,16]  Vòng đời của cá tra tự nhiên: Cá cái 10kg có thể đẻ khoảng 1 triệu trứng.

Sau khi đẻ, ấu trùng trôi theo dòng nước cuối cùng vào và sinh sống ở nơi cư trú vùng ngập. Đối với đàn cá thượng nguồn, giai đoạn ấu trùng có thể phụ thuộc chủ yếu vào vùng ngập ven sông và các đảo nhỏ bị ngập dọc sông (như xung quanh thác Khôn và cửa song Mun trên thượng lưu). Khi bắt đầu mùa mưa vào tháng 10, mực nước hạ xuống làm tín hiệu cho cá di cư ra khỏi nơi cư trú vùng ngập vào sông chính. Cuối cùng chúng dừng lại ở sông Mê Công và bắt đầu di cư ngược dòng đến nới ẩn náu mùa khô.

Sự di chuyển này còn phụ thuộc cá vào tuần trăng vì chúng chỉ xảy ra ngay trước khi và trong khi trăng tròn. Sự di chuyển này kéo dài cho đến tháng 2, nhung di chuyển mạnh nhất vào tháng 11 và 12. [1] Mùa mưa sau (tháng 5-6) tạo tín hiệu cho các cá thể thành thục di cư ngược dòng sinh sản. Những cá thể chưa thành thục di cư ngược trở lại xuôi dòng vào nơi cư trú vùng ngập (đối với đàn hạ lưu), hoặc ngược dòng lên thượng lưu vào vùng ngập các chi lưu (đàn cá trung lưu và đàn cá thượng lưu).

Nhìn chung, cá ở Đồng bằng sông Cửu Long dài dưới 50 cm, chủ yếu là cá dưới 30 cm. Ấu trùng thuộc đàn cá hạ lưu trôi theo dòng nước từ bãi đẻ ở đoạn giữa Kra-chiê và thác Khôn vào thời gian bắt đầu mùa lũ. Khi chúng đến biên giới giữa Căm-pu-chia và Việt Nam, chúng dạt vào các vùng ngập ở đây. Sông Tông-lê Sáp đã chảy theo chiều ngược lại giúp cho ấu trùng có thể đi vào vùng ngập thuộc hệ thống này.[1] 9 do an Hình 1.

Vòng đời phát triển của cá tra 1. Giá trị kinh tế của cá tra trong và ngoài nước  Ngoài nước Sản lượng nuôi trồng thủy sản trên thế giới tăng đều trong những năm gần đây. Vào 2012, sản lượng nuôi trồng tủy sản tăng đến 12% so với năm 2011 (từ 59.0 triệu tấn trong năm 2011 đến 66.6 triệu tấn trong năm 2012) [5]. Trong đó năng suất họ cá da trơn chiếm 1.6 triệu tấn trong năm 2012 và cá tra chiếm 1 triệu tấn trong số đó.

Những nước xuất khẩu cá tra như: Indonesia, Myanmar, Cam-Pu-Chia, Bangladesh, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Việt Nam là nước tỷ lệ nuôi cá tra cao nhất chiếm khoảng 75% trên thế giới [6]. Ví dụ ở Bangladesh là một nước nằm ở vùng Nam Á giáp với Ấn Độ và Myanmar. Nuôi trồng thuỷ sản ở Bangladesh đã phát triển nhanh chóng trong ba thập kỷ qua.

Năm 2009, Bangladesh đứng thứ 6 trong số các quốc gia nuôi trồng thủy sản lớn nhất (theo FAO năm 2009), xuất khẩu khoảng 1.06 triệu tấn thủy sản. Và chủ yếu trong đó cá tra phát triển nhất chiếm 29% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của nước đó. [7] 10 do an  Trong nước Có thể nói năm 1997 – 1998 là giai đoạn cá tra Việt Nam bắt đầu xuất khẩu. Năm 1997 chỉ xuất khẩu 425 tấn cá tra với tổng giá trị 1.

Như vậy, xuất khâur cá tra mới chiếm tỷ lên 0.2% tổng xuất khẩu thủy sản bằng 0.6% tổng xuất khẩu sản phẩm tôm. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu thì giá của cá tra lại cao nhất khoảng 3. Các doanh nghiệp tập trung xuất khẩu nhiều nhất đi các thị trường như: Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và Đài Loan Theo báo cáo tổng hợp từ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ năm 2000 trở đi nghề nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có những sự phát triển vượt bậc tập trung lớn ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long,… với tổng diện tích hơn 5 nghìn ha. Đến năm 2001 thì sản lượng cả vùng hơn 100 nghìn tấn và đến năm 2009 đã lên tới 1 triệu tấn, đạt kinh ngạch xuất khẩu tới 1.

Năm 2017, sản lượng nuôi trồng cá tra đạt 2694.3 nghìn tấn, tăng 4.2% so với năm 2016; giá trị xuất khẩu đạt 1.78 tỷ USD tăng 4.3% so với năm 2016 [VASEP] Hình 1. Sản lượng cá tra xuất khẩu ở Việt Nam từ 1997 – 2017 [17] 11 do an Hình 1. Thị trường xuất khẩu cá tra từ năm 1997 – 2017 [17] Từ hai bản đồ trên cho thấy tổng giá trị xuất khẩu cá tra trung bình tăng qua từng năm nhưng năm 2011 là năm đỉnh cao của việc xuất khẩu cá tra với giá trị xuất khẩu đạt 1. Từ năm 2012 đến nay, tổng giá trị xuất khẩu cá tra trung bình thấp hơn so với thời kỳ đỉnh cao (2011) và đạt mức 1.

Rõ ràng sau 20 năm xuất khẩu, cá tra Việt Nam đã có bước phát triển không ngừng và mang tầm vóc quốc tế. Các nước nhập khẩu cá tra gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Mexico, Brazil, Canada, Anh, … và nhiều nước khác trong EU, Asian, Nam Mỹ, Trung Đông,… [17]. Nga và Liên Minh Châu Âu EU nhập khẩu khoảng 2/3 tổng số cá tra xuất khẩu Việt Nam vào năm 2006, trong khi đó Mỹ và Trung Quốc đang có xu hướng giảm nhập khẩu cá tra [12]  Mô hình nông trại cá tra ở Việt Nam Mô hình nuôi cá da trơn truyền thống ở đồng bằng sông Cửu Long là nuôi chủ yếu hai loại cá da trơn là cá tra (Pangasianodon Hypopthalmus) và cá basa (Pangasius Bocouri) ở ao gia đình, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu mỗi gia đình cũng như là một phương tiện thu nhập nhỏ. Cá tra được bắt từ hoang dã của hợp lưu sông Mê Kông và Tonle Sap, cá tra chủ yếu được cho ăn là chất thải của con người Mô hình nuôi cá tra ngày càng mở rộng với sự thay đổi bằng nuôi trong lồng (hoặc là hàng rào của hai loài cá là cá tra và cá basa.

Mô hình này được thực hiện ở các khu vực ở 12 do an nhánh sông Mê Kông là Tiền Giang và Hậu Giang thuộc bốn tỉnh An Giang, Cần Thơ, Cần Thơ, Đồng Tháp và Vĩnh Long. Và sau đó đã phát triển kỹ thuật nhân giống cá tra và cá basa làm cho ngành nuôi trồng cá càng phát triển và có tiềm năng hơn. Việc nuôi cá trong lồng đã có những vấn đề liên quan đến lưu lượng nước trên sông đặc biệt là vào mùa hè dẫn tới việc gia tăng bệnh và giảm tăng trưởng của cá. Sau đó người ta đã thử nghiệm mô hình nuôi trong lồng cố định dưới đáy sông và nuôi trong ao nhỏ, và thử nghiệm đã cho kết quả khích lệ là cho chất lượng thịt cá tốt hơn.

Những thay đổi trong việc canh tác cơ bản của cá da trơn giai đoạn 1997 – 2007 được mô tả trong hình 6. Cho thấy một sự chuyển đổi tương đối nhanh chóng trong việc nuôi cá trong ao, và nuôi cá trong lồng và hàng rào là lỗi thời. Sự phát triển của cá da trơn bắt đầu từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng nhanh là bắt đầu từ năm 2002. Sự tăng trưởng của sản xuất cá da trơn đã làm mở rộng nhanh chóng của hệ thống ao nuôi [14].

Cuối năm 2017, tổng diện tích nuôi cá tra ở đồng bằng song Cửu Long đạt 6078 ha, tăng 3.1% so với năm 2016 và sản lượng đạt 1.2 triệu tấn (tăng 4. Xu hướng nông trại nuôi cá tra ở Việt Nam tuừ 1997 – 2014 [15] 13 do an Hình 1. Mô hình nuôi cá tra bằng lồng ở Việt Nam Hình 1. Mô hình nuôi cá tra trong ao đất 1.

Giá trị dinh dưỡng và thành phần hóa học của cá tra Cá nói chung và cá tra nói riêng là một nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, là nguồn protein giàu acid amin thiết yếu, thường chứa nhiều acid béo omega – 3, cung cấp nhiều chất khác như vitamin tan trong béo, các chất vi lượng và đa lượng tốt cho sức khỏe. Các chất vi 14 do an lượng như acid béo omega – 3, vitamin D, vitamin B2, canxi, photpho, iot, kẽm, sắt, magie, kali là những chất cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng con người cũng như có vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế. Ăn cá giúp giảm nguy cơ mắc bệnh về tim mạch, giúp cho bộ não khỏe mạnh. Các acid béo omega – 3 giúp cho phát triển trí não và thị lực của trẻ trong quá trình mang thai.

Do đó nhu cầu của người tiêu dùng về cá và sản phẩm cá tăng liên tục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu quy trình sản xuất sumiri cá tra tại HCMUTE" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình sản xuất sumiri từ cá tra, một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và tiềm năng thương mại lớn. Tác giả đã phân tích các bước trong quy trình sản xuất, từ việc chọn nguyên liệu đến các phương pháp chế biến, nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng trong ngành chế biến thực phẩm.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các quy trình chế biến thực phẩm khác, hãy tham khảo bài viết Luận văn nghiên cứu chế biến sản phẩm kẹo jelly dâu tằm, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về quy trình sản xuất kẹo jelly. Ngoài ra, bài viết Luận văn nghiên cứu chế biến sản phẩm mứt dứa miếng cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về quy trình chế biến mứt, một sản phẩm phổ biến trong ẩm thực Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể khám phá thêm về Luận văn tìm hiểu và haccp và xây dựng hệ thống haccp cho quy trình sản xuất bánh snack, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm trong sản xuất. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về ngành chế biến thực phẩm.