CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan cá tra 1. Giới thiệu cá tra - Họ: Pangasiidae - Tên khoa học: Pangasiandon hypophthalmus - Tên tiếng anh: Sutchi River Catfish - Tên tiếng việt: cá tra [1] Hình 1. Ở Việt Nam cá tra được nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long như: sông Tiền ( Vĩnh Xương, Hồng Ngự, Cao Lãnh,…), ồn hậu (An Phú, Cái Côn,.
Ngoài ra, ở Châu Á các nước nuôi cá tra phổ biến là Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan và Myanmar[15]. Cá tra thường ở tầng đáy, tầng giữa và tầng mặt, là loài di cư trong sông. Hiện nay ngành nuôi cá tra đang rất phát triển và cá tra chủ yếu được nuôi bằng các sản phẩm phụ từ nông nghiệp như: cám gạo, đậu nành hoặc các sản phẩm phụ từ quá trình chăn nuôi.[12] 7 do an Hình 2. Sơ đồ khu vực phân bố cá tra Cá tra có đặc điểm: thân dài, hẹp ngang, hình thoi, đầu nhỏ vừa phải; miệng rộng có răng sắt nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái; mắt tương đối to; có hai đôi râu.
Cá tra không có vẩy, da trơn, vây lưng thứ nhất có năm tia, vây thứ hai là vây mỡ , vây hậu môn có 39 tia. [1,4] Giống như tất cả các loài Pangasiidae, Pangasianodon Hypophthalmus là một loài cá ven sông có khả năng di chuyển đường dài hơn vài trăm kilomet giữa nới cư trú thượng lưu và môi trường sinh sản hạ lưu. Cá tra tự nhiên là loài ăn tạp, ăn tảo, thực vật bặc cao, động vật phù du và côn trùng, các con cá to thì cũng có thể ăn trái cây, giáp xác và cá. Cá có kích thước trung bình từ 800-1500 mm, khối lượng khai thác khoảng 800-1200gr/con, khối lượng tối đa có thể đạt được khoảng 44kg.
loài cá này là benthopelagic, thường sống trong khu vực nước có pH 6. Cá cái mất ít nhất ba năm để trưởng thành về khả năng sinh sản trong điều kiện nuôi (lúc đó cá nặng hơn 3kg), trong khi con đực thường trưởng thành trong năm thứ hai trong điều kiện nuôi. Một con cái trưởng thành 10kg có thể 8 do an đẻ hơn một triệu trứng. Cá tra mẹ ở tự nhiên thường sinh sản hai lần mỗi năm cách lần thứ nhất từ 6 – 17 tuần.[1,2,4,16] Vòng đời của cá tra tự nhiên: Cá cái 10kg có thể đẻ khoảng 1 triệu trứng.
Sau khi đẻ, ấu trùng trôi theo dòng nước cuối cùng vào và sinh sống ở nơi cư trú vùng ngập. Đối với đàn cá thượng nguồn, giai đoạn ấu trùng có thể phụ thuộc chủ yếu vào vùng ngập ven sông và các đảo nhỏ bị ngập dọc sông (như xung quanh thác Khôn và cửa song Mun trên thượng lưu). Khi bắt đầu mùa mưa vào tháng 10, mực nước hạ xuống làm tín hiệu cho cá di cư ra khỏi nơi cư trú vùng ngập vào sông chính. Cuối cùng chúng dừng lại ở sông Mê Công và bắt đầu di cư ngược dòng đến nới ẩn náu mùa khô.
Sự di chuyển này còn phụ thuộc cá vào tuần trăng vì chúng chỉ xảy ra ngay trước khi và trong khi trăng tròn. Sự di chuyển này kéo dài cho đến tháng 2, nhung di chuyển mạnh nhất vào tháng 11 và 12. [1] Mùa mưa sau (tháng 5-6) tạo tín hiệu cho các cá thể thành thục di cư ngược dòng sinh sản. Những cá thể chưa thành thục di cư ngược trở lại xuôi dòng vào nơi cư trú vùng ngập (đối với đàn hạ lưu), hoặc ngược dòng lên thượng lưu vào vùng ngập các chi lưu (đàn cá trung lưu và đàn cá thượng lưu).
Nhìn chung, cá ở Đồng bằng sông Cửu Long dài dưới 50 cm, chủ yếu là cá dưới 30 cm. Ấu trùng thuộc đàn cá hạ lưu trôi theo dòng nước từ bãi đẻ ở đoạn giữa Kra-chiê và thác Khôn vào thời gian bắt đầu mùa lũ. Khi chúng đến biên giới giữa Căm-pu-chia và Việt Nam, chúng dạt vào các vùng ngập ở đây. Sông Tông-lê Sáp đã chảy theo chiều ngược lại giúp cho ấu trùng có thể đi vào vùng ngập thuộc hệ thống này.[1] 9 do an Hình 1.
Vòng đời phát triển của cá tra 1. Giá trị kinh tế của cá tra trong và ngoài nước Ngoài nước Sản lượng nuôi trồng thủy sản trên thế giới tăng đều trong những năm gần đây. Vào 2012, sản lượng nuôi trồng tủy sản tăng đến 12% so với năm 2011 (từ 59.0 triệu tấn trong năm 2011 đến 66.6 triệu tấn trong năm 2012) [5]. Trong đó năng suất họ cá da trơn chiếm 1.6 triệu tấn trong năm 2012 và cá tra chiếm 1 triệu tấn trong số đó.
Những nước xuất khẩu cá tra như: Indonesia, Myanmar, Cam-Pu-Chia, Bangladesh, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Việt Nam là nước tỷ lệ nuôi cá tra cao nhất chiếm khoảng 75% trên thế giới [6]. Ví dụ ở Bangladesh là một nước nằm ở vùng Nam Á giáp với Ấn Độ và Myanmar. Nuôi trồng thuỷ sản ở Bangladesh đã phát triển nhanh chóng trong ba thập kỷ qua.
Năm 2009, Bangladesh đứng thứ 6 trong số các quốc gia nuôi trồng thủy sản lớn nhất (theo FAO năm 2009), xuất khẩu khoảng 1.06 triệu tấn thủy sản. Và chủ yếu trong đó cá tra phát triển nhất chiếm 29% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của nước đó. [7] 10 do an Trong nước Có thể nói năm 1997 – 1998 là giai đoạn cá tra Việt Nam bắt đầu xuất khẩu. Năm 1997 chỉ xuất khẩu 425 tấn cá tra với tổng giá trị 1.
Như vậy, xuất khâur cá tra mới chiếm tỷ lên 0.2% tổng xuất khẩu thủy sản bằng 0.6% tổng xuất khẩu sản phẩm tôm. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu thì giá của cá tra lại cao nhất khoảng 3. Các doanh nghiệp tập trung xuất khẩu nhiều nhất đi các thị trường như: Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và Đài Loan Theo báo cáo tổng hợp từ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ năm 2000 trở đi nghề nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có những sự phát triển vượt bậc tập trung lớn ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long,… với tổng diện tích hơn 5 nghìn ha. Đến năm 2001 thì sản lượng cả vùng hơn 100 nghìn tấn và đến năm 2009 đã lên tới 1 triệu tấn, đạt kinh ngạch xuất khẩu tới 1.
Năm 2017, sản lượng nuôi trồng cá tra đạt 2694.3 nghìn tấn, tăng 4.2% so với năm 2016; giá trị xuất khẩu đạt 1.78 tỷ USD tăng 4.3% so với năm 2016 [VASEP] Hình 1. Sản lượng cá tra xuất khẩu ở Việt Nam từ 1997 – 2017 [17] 11 do an Hình 1. Thị trường xuất khẩu cá tra từ năm 1997 – 2017 [17] Từ hai bản đồ trên cho thấy tổng giá trị xuất khẩu cá tra trung bình tăng qua từng năm nhưng năm 2011 là năm đỉnh cao của việc xuất khẩu cá tra với giá trị xuất khẩu đạt 1. Từ năm 2012 đến nay, tổng giá trị xuất khẩu cá tra trung bình thấp hơn so với thời kỳ đỉnh cao (2011) và đạt mức 1.
Rõ ràng sau 20 năm xuất khẩu, cá tra Việt Nam đã có bước phát triển không ngừng và mang tầm vóc quốc tế. Các nước nhập khẩu cá tra gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Mexico, Brazil, Canada, Anh, … và nhiều nước khác trong EU, Asian, Nam Mỹ, Trung Đông,… [17]. Nga và Liên Minh Châu Âu EU nhập khẩu khoảng 2/3 tổng số cá tra xuất khẩu Việt Nam vào năm 2006, trong khi đó Mỹ và Trung Quốc đang có xu hướng giảm nhập khẩu cá tra [12] Mô hình nông trại cá tra ở Việt Nam Mô hình nuôi cá da trơn truyền thống ở đồng bằng sông Cửu Long là nuôi chủ yếu hai loại cá da trơn là cá tra (Pangasianodon Hypopthalmus) và cá basa (Pangasius Bocouri) ở ao gia đình, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu mỗi gia đình cũng như là một phương tiện thu nhập nhỏ. Cá tra được bắt từ hoang dã của hợp lưu sông Mê Kông và Tonle Sap, cá tra chủ yếu được cho ăn là chất thải của con người Mô hình nuôi cá tra ngày càng mở rộng với sự thay đổi bằng nuôi trong lồng (hoặc là hàng rào của hai loài cá là cá tra và cá basa.
Mô hình này được thực hiện ở các khu vực ở 12 do an nhánh sông Mê Kông là Tiền Giang và Hậu Giang thuộc bốn tỉnh An Giang, Cần Thơ, Cần Thơ, Đồng Tháp và Vĩnh Long. Và sau đó đã phát triển kỹ thuật nhân giống cá tra và cá basa làm cho ngành nuôi trồng cá càng phát triển và có tiềm năng hơn. Việc nuôi cá trong lồng đã có những vấn đề liên quan đến lưu lượng nước trên sông đặc biệt là vào mùa hè dẫn tới việc gia tăng bệnh và giảm tăng trưởng của cá. Sau đó người ta đã thử nghiệm mô hình nuôi trong lồng cố định dưới đáy sông và nuôi trong ao nhỏ, và thử nghiệm đã cho kết quả khích lệ là cho chất lượng thịt cá tốt hơn.
Những thay đổi trong việc canh tác cơ bản của cá da trơn giai đoạn 1997 – 2007 được mô tả trong hình 6. Cho thấy một sự chuyển đổi tương đối nhanh chóng trong việc nuôi cá trong ao, và nuôi cá trong lồng và hàng rào là lỗi thời. Sự phát triển của cá da trơn bắt đầu từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng nhanh là bắt đầu từ năm 2002. Sự tăng trưởng của sản xuất cá da trơn đã làm mở rộng nhanh chóng của hệ thống ao nuôi [14].
Cuối năm 2017, tổng diện tích nuôi cá tra ở đồng bằng song Cửu Long đạt 6078 ha, tăng 3.1% so với năm 2016 và sản lượng đạt 1.2 triệu tấn (tăng 4. Xu hướng nông trại nuôi cá tra ở Việt Nam tuừ 1997 – 2014 [15] 13 do an Hình 1. Mô hình nuôi cá tra bằng lồng ở Việt Nam Hình 1. Mô hình nuôi cá tra trong ao đất 1.
Giá trị dinh dưỡng và thành phần hóa học của cá tra Cá nói chung và cá tra nói riêng là một nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, là nguồn protein giàu acid amin thiết yếu, thường chứa nhiều acid béo omega – 3, cung cấp nhiều chất khác như vitamin tan trong béo, các chất vi lượng và đa lượng tốt cho sức khỏe. Các chất vi 14 do an lượng như acid béo omega – 3, vitamin D, vitamin B2, canxi, photpho, iot, kẽm, sắt, magie, kali là những chất cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng con người cũng như có vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế. Ăn cá giúp giảm nguy cơ mắc bệnh về tim mạch, giúp cho bộ não khỏe mạnh. Các acid béo omega – 3 giúp cho phát triển trí não và thị lực của trẻ trong quá trình mang thai.
Do đó nhu cầu của người tiêu dùng về cá và sản phẩm cá tăng liên tục.