Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGHỀ TRỒNG NẤM TẠI VIỆT NAM 1. Các khái niệm liên quan đến PTBV nghề trồng nấm 1. Phát triển bền vững 1. Sự ra đời của khái niệm Phát triển bền vững Trải qua rất nhiều sự kiện về việc kêu gọi và cổ vũ cho phát triển bền vững và sau thời gian dài, tháng 5 năm 1987, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) xuất bản Báo cáo Brundtland.
Báo cáo này còn có tựa đề “Tương lai của chúng ta” (Our Common Future). Kể từ báo cáo này thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được công bố chính thức và phổ biến rộng rãi. Khái niệm: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Nói cách khác, muốn PTBV phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Để đạt được điều đó, phải có sự chung tay thực hiện của tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội nhằm mục tiêu dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Từ đây, khái niệm PTBV có một nội dung bao quát, không có phạm vi nhất định, không bị gò bó bởi những chuẩn mực hoặc quy tắc đã định trước và cũng không có tính cụ thể rõ rệt. Khái niệm này có thể diễn nghĩa theo nhiều cách, theo nhiều hướng khác nhau. PTBV là một khái niệm co dãn, dễ áp dụng vào điều kiện thực tế và hoàn cảnh của mỗi quốc gia, mỗi khu vực.
Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc: 1. Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng. Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người. Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất.
Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được. Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất. Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân. Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.
Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ môi trường. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu. Khái niệm PTBV của WCED đã được lồng ghép các chính sách môi trường và các chiến lược phát triển với tầm nhìn rộng và lâu dài. Đây có thể được xem là khái niệm rõ ràng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Như vậy, khái niệm PTBV đã vượt khỏi khuôn khổ là bảo vệ môi trường đơn thuần, trở nên bao quát và toàn diện hơn. Khái niệm PTBV thể hiện sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống. Chỉ có như vậy đất nước mới có thể PTBV cả trong ngắn hạn và trong dài hạn.
Từ đó có thể thấy, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là 03 trụ cột của phát triển bền vững. Và đây cũng chính là tiêu chí nền tảng để đánh giá sự phát triển bền vững. Các mô hình phát triển bền vững Nhằm mục đích làm rõ thêm nội dung và bản chất của PTBV, tác giả đã tìm hiểu một số mô hình phát triển bền vững đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển. * Mô hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler (1990) Theo mô hình của Jacobs và Sadler, phát triển bền vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần 9 Luan van môi trường của trái đất); Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm); Hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội).
Hay nói cách khác, muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư và (3) cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó nhưng luôn được gắn một cách hữu cơ với mục tiêu khác. Sự kết hợp hài hòa hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người. Tương tác giữa ba hệ thống Tự nhiên-Kinh tế-Xã hội và Phát triển bền vững Trong mô hình trên, sự phát triển bền vững không cho phép vì sự ưu tiên của hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với một hệ khác hay phát triển bền vững là sự dung hòa các tương tác và thỏa hiệp của ba hệ thống chủ yếu trên.
* Mô hình phát triển bền vững của UNCED (1993) Mô hình này thể hiện quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường theo thời gian và không gian, nhấn mạnh tới các mục tiêu: kinh tế - mục tiêu xã hội - mục tiêu môi trường thay cho các hệ: kinh tế - xã hội - môi trường. Mục tiêu kinh tế trong mô hình này là nâng cao thu nhập của người dân, các ngành kinh tế và GDP, GNP. Mục tiêu xã hội là thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, vật chất, tinh thần của 10 Luan van mọi người dân và các cộng đồng dân cư. Mục tiêu môi trường là giữ lâu dài cân bằng của các hệ sinh thái nuôi dưỡng sự sống.
Quan hệ thời gian và không gian của các hệ Kinh tế-Xã hội–Môi trường Mô hình này thể hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, môi trường theo thời gian và không gian. Tuy nhiên mô hình này không thể hiện rõ sự tương tác, tính liên kết của các mục tiêu PTBV. * Mô hình của Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission on Environment and Development, WCED) “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Theo Gôdian và Hecdue, 1988, GS.
Mô hình này tập trung trình bày quan niệm về phát triển bền vững trong các lĩnh vực cụ thể như kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính, công nghệ, sản xuất và quốc tế. Phát triển bền vững theo mô hình này là sự dung hòa, đan xen lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, sản xuất, chính trị, công nghệ. Như vậy, mô hình phát triển bền vững của WCED đã mở rộng các lĩnh vực cũng như cụ thể hóa một số lĩnh vực phát triển bền vững. Về thực chất, mô hình này là sự cụ thể hóa mô hình tổng quát về PTBV.
Mô hình này cho thấy phát triển bền vững phải đảm bảo sự hài hòa giữa nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố như kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội. Phát 11 Luan van triển bền vững của một quốc gia phải được xem xét trong sự phát triển bền vững của thế giới, chịu tác động bởi các yếu tố mang tính quốc tế. X· héi S¶n xuÊt Quèc TÕ Hình 1. Mô hình phát triển bền vững của WCED (1987) * Mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới Theo mô hình này, phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã hội (công bằng và dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người).
Mục tiêu kinh tế Phát triển bền vững Mục tiêu xã hội Mục tiêu môi trường Hình 1. Mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới Mô hình này đề cập đến mục tiêu của phát triển bền vững. Các mục tiêu được cụ thể hóa trong 3 lĩnh vực chính là kinh tế, xã hội và môi trường. Đây có thể coi là mô hình 12 Luan van tổng quát, phù hợp cho việc đưa ra các mục tiêu phát triển bền vững, thuận lợi cho việc xây dựng chương trình PTBV của nền kinh tế nói chung và các lĩnh vực nói riêng.
* Mô hình phát triển bền vững của Liên Minh Bảo Tồn Thế Giới (IUCN) Mức độ phát triển bền vững hệ thống được biểu diễn bằng quả trứng 2 lớp, đặt tại tọa độ (giá trị phúc lợi nhân văn, giá trị phúc lợi sinh thái) trên hệ tọa độ vuông góc, trong đó trục tung biểu thị phúc lợi sinh thái, trục hoành biểu thị phúc lợi nhân văn, các giá trị phúc lợi biến thiên từ 0 đến 100%, chia thành 5 vùng là: không bền vững (0% đến 20%), không bền vững tiềm tàng (21% đến 40%), bền vững trung bình (41% đến 60%), bền vững tiềm năng (61% đến 80%) và bền vững (81% đến 100%). Tiếp theo, mô hình của IUCN đã được phát triển thành quả trứng bền vững ba lớp (Egg of Sustainability). Mô hình quả trứng bền vững 2 lớp và 3 lớp của IUCN * Mô hình phát triển bền vững của Việt Nam Phát triển bền vững là quá trình phát triển đồng thời hài hòa 3 mặt: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội phát triển lành mạnh và môi trường được bảo vệ, gìn giữ, tài nguyên được duy trì. Do vậy, hệ thống các nguyên tắc phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả ba nội dung: kinh tế, xã hội, môi trường [36].
Bảo vệ môi Phát trường Tăng triển bền trưởng kinh tế vững Công bằng vững 13hội xã Luan van Hình 1.