Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề thu nhập. Nêu lại những nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài. Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình và đề xuất đưa ra mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, sẽ trình bày khung phân tích, từ đó đưa ra mô hình đánh giá tác động, và trình bày phương pháp phân tích số liệu, thiết kê bảng câu hỏi cũng như phương pháp điều tra, chọn mẫu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này sẽ trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu, kết quả nghiên cứu sơ bộ, phân tích sự tác động của nguồn vốn chương trình mục tiêu giảm nghèo đến thu nhập của hộ dân nghèo. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này sẽ trình bày những kết luận tổng quát của đề tài và đưa ra những khuyến nghị một số giải pháp đến chính quyền địa phương nhằm nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Đồng thời cũng nêu ra thêm những hạn chế của kết quả nghiên cứu trong đề tài và những định hướng nghiên cứu sắp tới. 123doc 5 CHƯƠNG 2. Nghèo Theo Ngân hàng thế giới “Nghèo là tình trạng thiếu thốn nhiều phương diện, thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trong hoàn cảnh bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu đến những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục…” Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn nghèo đối với các nước có thu nhập thấp, theo đó người nghèo là những người có thu nhập bình quân dưới 1,25 USD/ngày (năm 2005). Chuẩn nghèo của Việt Nam áp dụng trong giai đoạn 2011-2015 ở khu vực nông thôn 400.000 đồng/người/tháng trở xuống và 500.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với thành thị.
Đo lường nghèo là việc không đơn giản vì bởi bản thân khái niệm nghèo đã rất phức tạp và có nhiều khía cạnh. Cách tiếp cận để đo lường nghèo phổ biến là so sánh thu nhập hoặc tiêu dùng của cá nhân hay hộ với ngưỡng hay tiêu chuẩn mức sống tại thời điểm đó. Một cách hiểu khác thì nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia có chuẩn nghèo riêng và nó cũng thay đổi theo thời gian.
Chương trình mục tiêu giảm nghèo Theo tinh thần Quyết định 1489/QĐ-TTg thì Chương trình mục tiêu giảm nghèo nhằm thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống của người nghèo, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn với các dịch vụ xã hội cơ 123doc 6 bản. Chương trình gồm có 4 dự án thành phần gồm: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; Nhân rộng mô hình giảm nghèo và Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện Chương trình. Tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình là 27.509 tỷ đồng, chi cho các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn, người nghèo, hộ nghèo, ưu tiên chủ hộ là nữ và hộ nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Từ nguồn vốn này, mục tiêu Chương trình đặt ra là cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt… nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và đa dạng hóa về thu nhập cho người nghèo, hộ nghèo; tạo cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận các chính sách, nguồn lực thị trường (thị trường vốn, lao động, đất đai, khoa học kỹ thuật - công nghệ và thị trường hàng hóa đầu vào, đầu ra.) hướng đến phát triển sản xuất và dịch vụ, tăng nhanh thu nhập, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững.
Thu nhập : Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập như sau : Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Thu nhập của hộ gia đình : Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản tiền chuyển nhượng vốn nhận được). CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH: 2. Nghề nghiệp chính của chủ hộ : Thu nhập của mỗi cá nhân có được do phải bỏ sức lao động tham gia vào các hoạt động lao động. Trong mỗi hộ gia đình, sự đóng góp lao động của mỗi cá nhân mang lại giá trị kinh tế cho gia đình thông qua nguồn thu nhập hàng ngày, hàng tháng hoặc cả một năm cho cả hộ gia đình.
Do đó, để tạo ra sản phẩm có giá trị đòi hỏi phải có nguồn vốn con người tích lũy được thông qua yếu tố trình độ, kinh nghiệm việc làm và các kỹ năng khác của mỗi người khi tham gia lao động. Đa số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đều có thu nhập thấp hơn so với các khu vực còn lại (phi nông nghiệp) do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thường sẽ có nhiều rủi ro hơn như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường không ổn định. Trong nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã kết luận rằng: với giả định các yếu tố không đổi, nếu chủ hộ làm nghề nông thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 16,35%. Theo nghiên cứu của Trương Minh Lễ (2010), nghiên cứu về tình trạng nghèo huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã kết luận rằng: khi các yếu tố khác không 123doc 8 đổi, nếu hộ này làm nông nghiệp thì dẫn đến thu nhập thấp và xác suất nghèo của hộ tăng lên 80,09%.
Nguyễn Hữu Tịnh (2010), trong 330 hộ điều tra mẫu tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước kết luận: tỷ lệ hộ nghèo (thu nhập thấp) của nhóm hộ có chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp là 4,55%, trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo đối với chủ hộ làm lĩnh vực nông nghiệp là 11,19% (cao hơn 6,64% so với chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp). Điều này cho thấy thu nhập của nhóm hộ làm lĩnh vực nông nghiệp là rất thấp so với hộ có nghề nghiệp, lĩnh vực phi nông nghiệp. Kinh nghiệm của hộ : Theo Nguyễn Xuân Thành (2009), cho rằng thu nhập của mỗi lao động bị ảnh hưởng bởi yếu tố số năm đi học và kinh nghiệm làm việc. Kinh nghiệm là những kỹ năng, bí quyết trong sản xuất.
Theo kết quả nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Trang (2010) ở 180 trang trại và hộ nông dân của 25 xã thuộc 3 huyện phía Bắc tỉnh Bình Dương thì kinh nghiệm có tác động đến thu nhập của hộ nông dân.Wharton (1963) cho rằng nếu tất cả những yếu tố đầu vào là giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về kinh nghiệm và kiến thức thì sẽ có kết quả sản xuất khác nhau hoàn toàn. Theo Bùi Quang Minh (2008), ứng dụng hàm Mincer nghiên cứu về vốn con người đối với thu nhập các hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên, kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm làm việc có ảnh hưởng đến thu nhập, nếu chủ hộ có số năm kinh nghiệm tăng 1 điểm thì thu nhập tăng lên 0,577 điểm. Số năm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu nhập bình quân của hộ sẽ càng tăng, đa số các hộ gia đình khu vực nông thôn làm nông nghiệp nên kinh nghiệm là yếu tố rất quan trọng quyết định đến năng suất lao động. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long với số mẫu khảo sát là 183 hộ, kết quả kết luận rằng: biến số kinh 123doc 9 nghiệm có hệ số dương 0,305 ở mức ý nghĩa 5% cho thấy số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng cao thì thu nhập bình quân của hộ càng tăng.
Huỳnh Trường Vy và Ông Thế Vinh (2009) cũng cho rằng: kinh nghiệm làm việc đóng góp tích cực đến vấn đề thu nhập của lao động nhập cư.