Chương 1: Tổng quan về bán phá giá và chống bán phá giá trong thương mại quốc tế. Chương 2: Kinh nghiệm đối phó với những vụ kiện bán phá giá của Ấn Độ, Thái Lan Chương 3: Phương hướng và giải pháp đối phó bán phá giá của Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm của Ấn Độ và Thái Lan. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHẢI ĐỐI PHÓ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIÁ 1. Tình hình kiện bán phá giá và đối phó với việc bị kiện bán phá giá trên thế giới những năm gần đây 1.
Vì sao các doanh nghiệp thực hiện bán phá giá hàng xuất khẩu Hiện tượng bán phá giá có nguồn gốc khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc tế. Các công ty đa quốc gia, các tập đoàn lớn đã sớm sử dụng “công cụ” bán phá giá để thâm nhập thị trường, giành thị phần hay thôn tính các đối thủ cạnh tranh. Với xu hướng toàn cầu hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ, bên cạnh những lợi ích thu được từ tự do hoá thương mại, các nước cũng phải đối mặt với tình trạng bảo hộ, cạnh tranh không lành mạnh mà điển hình trong đó là việc đối phó với tình trạng kiện bán phá giá hàng nhập khẩu của các nước đối tác. Để thâm nhập vào các thị trường mới, loại bỏ đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu tiến hành bán phá giá sản phẩm tại nước nhập khẩu.
Ví dụ như doanh nghiệp sản xuất ti vi Nhật Bản thỏa thuận giảm năng suất, hạn chế số lượng sản phấm bán trong thị trường nội địa nhằm tăng giá bán để đạt lợi nhuận cao hơn. Trong khi đó số lượng hàng hóa dư thừa sẽ được dùng để xuất khẩu sang thị trường mới. Lợi nhuận thu được từ bán hàng hóa với giá cao trong nước sẽ bù đắp phần lỗ từ việc bán phá giá hàng xuất khẩu. Như vậy doanh nghiệp vừa kiếm được lợi nhuận vừa mở rộng được thị phần bán hàng trong thương mại quốc tế.
Hoặc doanh nghiệp xuất khẩu bán phá giá hàng hóa vì muốn thu được lợi nhuận đối đa. Giả sử một công ty sản xuất 1 triệu chiếc xe đạp trong 1 năm bằng một nhà máy duy nhất với chỉ làm ca ban ngày. Công ty định giá bán xe đạp trên thị trường nội địa là 10 USD/ chiếc và lãi 1USD/ chiếc. Trong đó chi phí cố định 5 ( khấu hao máy móc thiết bị, nhà xưởng…) là 2 USD/ chiếc, chi phí biến đổi (nguyên vật liệu, tiền lương công nhân…) là 7 USD/ chiếc.
Nếu nhà máy bán hết 1 triệu chiếc xe đạp mỗi năm lãi 1 USD/ chiếc thì rõ ràng đã bù đắp được mọi chi phí cố định từ doanh thu bán hàng tại thị trường nội địa. Để tận dụng nhà xưởng máy móc, công ty có kế hoạch bán thên xe đạp sang thị trường nước khác. Để thu được lợi nhuận công ty có thể bán giá cao hơn chi phí biến đổi (do chi phí cố định đã được bù đắp bởi 1 triệu sản phẩm bán trong nước) và thấp hơn 10 USD. Bây giờ, nhà máy có thể làm thêm ca đêm và sản xuất 0,5 triệu sản phẩm nữa.
Nếu xuất khẩu 0,5 triệu chiếc xe đạp sang thị trường nước láng giềng với chi phí xuất khẩu là 1 USD/chiếc và giá bán tại thị trường nước nhập khẩu là 9 USD/chiếc, công ty vẫn thu được mức lãi chênh lệch giữa giá bán và chi phí biến đổi cộng với chi phí xuất khẩu là 1 USD/chiếc (do chi phí cố định không thay đổi), tổng lãi thu thêm là 0,5 triệu USD. Tuy nhiên có một điều kiện đặt ra là việc bán sảm phẩm ca đêm không được làm ảnh hưởng tới giá bán của 1 triệu sản phẩm ban ngày. Do đó công ty phải tìm kiếm một thị trường khác hẳn với thị trường ca ngày đồng thời phải đảm bảo người mua ở thị trường mới không dễ gì chuyển hàng ngược lại thị trường trong nội địa (tức là phải định giá bán ở thị trường mới sao cho chênh lệch giá không đủ bù đắp chi phí theo chiều ngược lại) nếu không giá ở thị trường nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đẩy giá ở thị trường nội địa xuống. Ngoài ra, còn do các lý do kinh tế, chính trị khác như là thu ngoại tệ mạnh, lũng đoạn nền kinh tế nước nhập khẩu….
Để bảo vệ nền kinh tế nội địa trước sự thâm nhập ồ ạt của hàng hoá từ bên ngoài, các nước luôn có xu hướng đưa ra nhiều biện pháp, hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm hạn chế số lượng hàng nhập khẩu. Trong khi đó, các ngành công nghiệp nội địa lại rất nhanh nhạy và ngày càng nhận thức được vai trò và hiệu quả của các biện pháp bảo hộ, nhất là các biện pháp kiện chống bán phá giá, biện pháp này vừa giúp họ loại bỏ sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu vừa giúp 6 cho quốc gia đó hợp pháp hoá các công cụ bảo hộ mà không đi ngược lại những cam kết dỡ bỏ các hàng rào thương mại theo quy định quốc tế Chính vì lẽ đó mà trên thế giới ngày nay, các quốc gia có xu hướng gia tăng sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại chống bán phá giá, bởi biện pháp này được tổ chức thương mại thế giới cho phép áp dụng như một công cụ hỗ trợ hợp pháp. Năm 1904 lần đầu tiên Canada áp dụng cơ chế chống bán phá giá và đến năm 1967 thì GATT giới thiệu hiệp định đầu tiên về chống bán phá giá. Định nghĩa về bán phá giá Trước hết ta phải xác định, bán phá giá không đồng nghĩa với bán hàng hoá giá rẻ.
Một nước có thể xuất khẩu hàng hoá tới nước khác và bán với giá rẻ hơn giá hàng hoá cùng loại tại nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá bán của hàng hoá đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không được coi là bán phá giá Bán phá giá trong thương mại quốc tế được hiểu là biểu tượng bán hàng hóa vào thị trường nước ngoài với giá thấp hơn chi phí sản xuất hoặc thấp hơn giá trị thông thường của loại hàng hóa đó. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại - Nhà xuất bản Prentice Hall xuất bản được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Trường Ðại học Kinh tế Quốc dân Việt Nam dịch ra Tiếng Việt, ấn hành năm 1999, đã đưa ra định nghĩa “Bán phá giá là việc bán một hàng hoá ở nước ngoài ở mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước" Tại Mỹ, bán phá giá được hiểu là việc bán hàng tại thị trường Mỹ với giá thấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu và việc bán các mặt hàng đó gây thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nước. Trong khi, theo quan điểm của Liên minh Châu ÂU (EU) xác định hành vi bán phá giá dựa trên cơ sở tính toán chi phí sản xuất và các thiệt hại do hành động bán phá giá đó đem lại. Bên cạnh các quy định liên quan đến bán phá giá của mỗi quốc gia, trên 7 bình diện quan hệ thương mại đa biên, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên quy định về vấn đề này.
Theo điều VI của Hiệp định quy định "Các bên ký kết nhận thấy rằng bán phá giá, với việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm, phải bị lên án nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho một ngành công nghiệp trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm trễ sự thành lập một ngành công nghiệp nội địa". Theo đó, Hiệp định chống bán phá giá của WTO đã định nghĩa : “Một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường". VD1: Nhà sản xuất bật lửa Trung Quốc bán bật lửa tại thị trường nội địa với giá 0.5 USD/chiếc, nếu nhà sản xuất này cũng bán loại bật lửa cùng loại tới một nước khác và bán với giá 0.3 USD/chiếc, thì người bán đó đã thực hiện hành vi bán phá giá. Trong định nghĩa này ta cần chú ý đến thuật ngữ ‘giá trị thông thường”, vì việc xác định hành vi bán phá giá được dựa trên việc tính toàn giá trị thông thường.
Theo WTO có 03 cách để xác định giá trị thông thường đó là : + Giá cao nhất của sản phẩm tương tự dành cho xuất khẩu đến bất cứ một nước thứ ba nào trong tiến trình thương mại thông thường, hoặc: + Giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất xứ có cộng thêm một mức tính hợp lý chi phí bán hàng và lợi nhuận. + Mức giá mà nhà xuất khẩu bán tại nước thứ 3 sau khi tính toán lại các chi phí về vận chuyển, quản lý, bán hàng. Đặc điểm của hành vi bán phá giá 8 - Bán phá giá là hành vi cạnh tranh thương mại không lành mạnh: bóp méo hoạt động thương mại bình thường, GATT cũng như WTO đều cho phép các quốc gia áp dụng những biện pháp mang tính “phòng vệ” để ngăn chặn và hạn chế hậu quả hiện tượng này, nhằm bảo vệ nền sản xuất nội địa, loại bỏ đối thủ, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật. Bất chấp việc bán phá giá hàng xuất khẩu trong thương mại quốc tế sẽ không đem lại lợi ích về vật chất trong ngắn hạn cho công ty, nhưng hành vi bán phá giá vẫn được các doanh nghiệp sử dụng như một công cụ hữu hiệu để chiếm lĩnh hay thâm nhập thị trường mới, loại bỏ đối thủ cạnh tranh… - Bán phá giá là hành vi có tính chất doanh nghiệp: về bản chất, bán phá giá trong thương mại quốc tế là hành vi bán giá hàng hoá xuất khẩu thấp hơn giá tiêu thụ nội địa.
Tuy nhiên việc bán với mức giá thấp hơn là quyết định của mỗi doanh nghiệp chứ không bị tác động bởi Nhà nước. Do đó, khác với hiện tượng trợ cấp Nhà nước, bán phá giá là hành vi có tính chất doanh nghiệp.