CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC Ở NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Các nghiên cứu về cán bộ khoa học kỹ thuật và vai trò của cán bộ khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của quốc gia Một cách chung nhất, đội ngũ cán bộ KHKT, nguồn nhân lực KHKT, nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn lao động chất lượng cao, nguồn lao động trình độ cao, lực lượng lao động KHKT, đội ngũ khoa học công nghệ (KHCN) hay đội ngũ lao động chất xám. là những thuật ngữ có thể hiểu được dùng để chỉ những người đạt được một trình độ đào tạo cao trong hệ thống giáo dục quốc dân và có kỹ năng nghề nghiệp nhất định về một lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ được phân công thực hiện. Theo định nghĩa trên, nguồn nhân lực KHKT hay đội ngũ cán bộ KHKT có những đặc trưng cơ bản sau đây: - Thứ nhất, được đào tạo trình độ cao (OECD, 1975)[112].
Trình độ đào tạo cao chứa đựng hàm ý đề cập đến sự đạt được một mức độ nhất định của giáo dục hoặc bằng cấp đào tạo chính thức và do đó, có thể phân biệt được với các trình độ đào tạo thấp hơn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, “trình độ đào tạo cao” hiện nay bao gồm: trình độ đào tạo CĐ, trình độ đào tạo ĐH, trình độ đào tạo Th.S và nghiên cứu sinh TS (Luật Giáo dục Đại học, 2012)[121]. Theo phân loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế (ISCED) do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa, trình độ đào tạo cao bao gồm: i) Trình độ đào tạo bậc 5: Trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên dẫn đến một loại văn bằng không phải là/hoặc không tương đương văn bằng của trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên. ii) Trình độ đào tạo bậc 6: Trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên dẫn tới một loại văn bằng của trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên hoặc tương đương, và iii) Trình độ đào tạo bậc 7 và bậc 8: Trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn thứ hai dẫn đến một loại văn bằng ĐH hoặc tương đương (UNESCO, 2011, tr.
- Thứ hai, có kỹ năng nghề nghiệp nhất định về một lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ được phân công thực hiện. Theo phân loại tiêu chuẩn chuyên môn nghề nghiệp quốc tế (ISCO), kỹ năng được xác định theo 2 tiêu chí: i) trình độ kỹ năng, và ii) kỹ năng chuyên môn (UNESCO, 2011)[166]. Trình độ kỹ năng có liên quan đến trình độ đào tạo. Kỹ năng chuyên môn được xác định dựa trên các lĩnh vực kiến thức chuyên 8 môn, các công cụ, máy móc sử dụng, tài liệu làm việc cũng như các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất.
Đối với mọi quốc gia, ở bất kỳ thời điểm lịch sử nào, nguồn nhân lực KHKT luôn là chủ thể quan trọng bậc nhất và được quan tâm hàng đầu, vì đó là nhân tố quyết định sức mạnh của đất nước; đặc biệt, trong bối cảnh của quá trình toàn cầu hóa và sự hình thành nền kinh tế dựa vào tri thức. Schultz (1961)[129], Denison (1967)[54] và World Bank (1991)[182] cho rằng “sự tăng trưởng kinh tế chỉ thể hiện một phần ở nguồn lao động và vốn vật chất. Một bộ phận cấu thành quan trọng của tăng trưởng này là từ những cải tiến chất lượng lực lượng lao động, cùng với tiến bộ KHKT và hiệu quả kinh tế nhờ quy mô". Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản : i) áp dụng công nghệ mới; ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại; và iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (Nguyễn Quốc Việt và Nguyễn Minh Thảo, 2012)[103].
Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là đội ngũ nhân lực được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề cao. Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, nguồn nhân lực có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Theo Temple (2001)[141], vốn con người có tác động trực tiếp đến năng suất lao động và có mối tương quan dương giữa sự thay đổi vốn con người và tăng trưởng kinh tế. Sự gia tăng vốn con người dẫn tới mức năng suất cao, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế.
Vốn con người đóng góp vào tăng trưởng kinh tế theo hai phương thức. Trước hết, vốn con người tồn tại trong mỗi cá thể sẽ làm tăng năng suất cá nhân, dẫn đến tăng năng suất chung và tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, vốn con người bao hàm trong mỗi cá thể cũng ảnh hưởng tới năng suất của các nhân tố sản xuất khác. Hai phương thức tác động này gọi là các hiệu ứng "nội sinh" và "ngoại sinh" của vốn con người.
Do đó các nhà chính trị và hoạch định chính sách đều cố gắng hành động nhằm tạo ra vốn con người cho quốc gia (Lucas, 1988)[92]. Hanushek và Kimko (2000)[65] đưa ra một kết luận là chất lượng của nguồn lao động có mối quan hệ nhân quả, bền vững và lâu dài với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Krueger và Lindahl (trích dẫn trong Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008, tr.46)[161] cho thấy nếu trình độ học vấn cao hơn thì thu nhập trung bình một năm tăng từ 5 - 15%. Ví dụ nghiên cứu ở New Zealand và Đan Mạch chỉ ra rằng những người có bằng cấp đại học thu nhập 15% cao hơn so với những người chỉ tốt nghiệp phổ thông trong suốt quãng đòi làm việc của họ (trích dẫn trong Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008, tr.
9 Okoh (1980)[115] cho rằng một nguồn nhân lực đông đảo có trình độ cao đã trở thành điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ở các quốc gia công nghiệp phát triển. Vấn đề cơ bản của hầu hết các nước đang phát triển không phải là nghèo tài nguyên thiên nhiên và là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào hai yếu tố: vốn và lực lượng lao động được đào tạo. Do đó, nhiệm vụ trước tiên của các nước đang phát triển phải là xây dựng và tích lũy vốn con người.
Hầu hết các nước đang phát triển không đủ lượng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, nhưng họ có sẵn nguồn nhân lực và có thể bắt đầu đào tạo nguồn nhân lực này (Okoh, 1980)[115]. Theo quan điểm của Waines (1963)[175] thì các nước đang phát triển dù có nhiều tài nguyên nhưng thiếu lao động có chất lượng nên sự phát triển chậm. Các nước đang phát triển không phải là nghèo về tài nguyên thiên nhiên mà là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Các nước đang phát triển cho rằng tốc độ tăng trưởng hoàn toàn phụ thuộc vào mức vốn vật chất mà họ có thể tích lũy hoặc thu hút được.
Kết quả là họ ra sức tìm kiếm nguồn tài chính từ bên ngoài để bổ sung vào nguồn đầu tư giới hạn trong nước có được từ thặng dư ngân sách trong giai đoạn đầu của phát triển. Nhưng khả năng sử dụng vốn một cách hiệu quả lại phụ thuộc vào trình độ của nguồn nhân lực. Kết quả nghiên cứu của Permani (2009[118]) về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế – khảo sát ở khu vực Đông Á cho thấy giáo dục là điều kiện cần thiết giúp các nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách về công nghệ với các nước phát triển nhưng không phải là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế. Tác động của giáo dục là trong dài hạn chứ không phải là nhất thời hay trong hiện tại đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Theo Liu và Armer (1993)[91] thì nếu chênh lệch thu nhập phản ánh chênh lệch năng suất lao động cá nhân, thì một cộng đồng càng đông người có trình độ giáo dục cao sẽ có năng suất kinh tế tổng hợp càng lớn, kết quả là nền kinh tế quốc gia tăng trưởng.Samuelson - nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng, có bốn nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế là: (1) nhân lực, (2) tài nguyên thiên nhiên, (3) cấu thành tư bản và (4) kỹ thuật - công nghệ. Ở các nước đang phát triển, cả bốn nhân tố này đều khan hiếm, dẫn đến các nước vướng vào “vòng luẩn quẩn”- nguồn gốc của sự đói nghèo. Để phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn” cần phải có một “cú huých” từ bên ngoài và từ đó có thể cất cánh. Các nước đang phát triển đầu tư gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo, tiếp nhận chuyển giao công nghệ có thể được xem như một trong những cú huých từ bên ngoài.
Các nghiên cứu về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước Phát triển nguồn nhân lực KHKT có liên quan đến hoạt động đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT và phải dựa trên một nền tảng GDĐT cơ bản, đặc biệt GDĐT trình độ cao. Nói khác đi, GDĐT có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người nói chung, của đội ngũ cán bộ KHKT nói riêng. Adam Smith (trích dẫn trong Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008)[161] viết: "giáo dục là một cách thức tốt nhằm chống lại sự khốn cùng do phân công lao động liên tục gây ra". Alfred Marshall (trích dẫn trong Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008)[161] cho rằng giáo dục khiến con người trở nên thông minh hơn, đáng tin cậy hơn trong những công việc thông thường và quan niệm giáo dục là một loại đầu tư quốc gia và ủng hộ giáo dục nhằm cải tiến kỹ thuật.
Karl Marx (trích dẫn trong Cai, 1996)[33] cũng cho rằng giáo dục có vai trò thúc đẩy hòa bình và hài hòa xã hội, cải thiện bản thân và trong quá trình tạo ra của cải. Dưới góc độ kinh tế học, J., đều có quan điểm thống nhất rằng đầu tư cho GDĐT được xem là quá trình đầu tư cơ bản và đầu tư GDĐT là đầu tư vào con người để tạo ra nguồn vốn con người. Cai (1996)[33] khẳng định, vốn con người được tích lũy theo nhiều cách, nhưng GDĐT là nguồn tích lũy cơ bản nhất.