Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tuấn Anh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, hoàn thành năm 2016. Luận án thuộc chuyên ngành khoa học kinh tế, tiếp cận vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dưới giác độ kinh tế học và quản lý kinh tế, kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhân lực được xác định là nền tảng và lợi thế phát triển bền vững, hội nhập quốc tế. Mục tiêu cụ thể đặt ra là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN), các chuyên gia đầu ngành có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngang tầm khu vực và từng bước tiếp cận trình độ thế giới, có năng lực tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề phát triển của đất nước. Để thực hiện mục tiêu này, các giải pháp trọng tâm bao gồm tăng cường cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (NSNN), gắn với nâng cao hiệu quả và định hướng ngành nghề, đồng thời đổi mới chính sách sử dụng nhân lực theo hướng trọng dụng nhân tài.

Chủ trương gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN đã được khẳng định qua nhiều văn kiện và chính sách của Đảng và Nhà nước, tiêu biểu như:

  • Chỉ thị số 270-CT ngày 23/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc gửi công dân Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài.
  • Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/1995 của Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc cử người đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng nguồn NSNN hàng năm.
  • Khoản 3, Điều 108 của Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2009), quy định Nhà nước dành ngân sách cử người có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức và trình độ đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt.

Trên cơ sở các chủ trương này, Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai hàng loạt đề án quy mô lớn:

  • Năm 2000: Triển khai "Chương trình đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật ở nước ngoài bằng NSNN" theo Quyết định số 322/QĐ-TTg (Đề án 322).
  • Năm 2005: Điều chỉnh mục tiêu và đổi tên thành "Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng NSNN" (Đề án 356), kết thúc vào năm 2014.
  • Năm 2010: Phê duyệt "Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010 - 2020" (Đề án 911).
  • Năm 2014: Phê duyệt đề án "Đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng NSNN giai đoạn 2013 - 2020" (Đề án 599).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Sau 15 năm triển khai Đề án 322/356, xã hội và các cơ quan quản lý chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào đánh giá toàn diện kết quả, hiệu quả và mức độ đóng góp của chương trình. Các cơ sở lý luận về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN hầu như chưa được xây dựng hoàn chỉnh; các nghiên cứu hiện có chủ yếu dừng lại ở các báo cáo hành chính tổng kết của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc nghiên cứu định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung. Chưa có công trình rà soát tính đúng đắn của việc lựa chọn ngành nghề, quốc gia cử đi học, phân bổ kinh phí, cũng như chưa định lượng được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình học tập và quyết định trở về nước công tác của lưu học sinh.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là nghiên cứu góp phần định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030.

Hệ thống mục tiêu cụ thể gồm 6 nội dung được đánh số như sau:

  1. Hình thành cơ sở lý luận cho định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
  2. Nghiên cứu thực tiễn và xu hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT của các nước trên thế giới.
  3. Đánh giá việc thực hiện định hướng, thực trạng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
  4. Làm rõ các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
  5. Đề xuất quan điểm, xây dựng định hướng cho việc đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030.
  6. Đề xuất giải pháp thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN trong thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung trả lời 5 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Định hướng gửi người đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN bao gồm những nội dung gì và tiêu chí để đánh giá thực hiện định hướng đấy?
  2. Đánh giá việc sử dụng cán bộ KHKT đi học nước ngoài về dựa trên những tiêu chí nào?
  3. Những nhân tố nào tác động đến việc thực hiện định hướng đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN?
  4. Những nhân tố nào tác động đến việc sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN sau khi tốt nghiệp?
  5. Làm thế nào để có định hướng đào tạo tốt, cần phải có những thay đổi gì trong tương lai để giúp có định hướng đào tạo tốt và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực được đào tạo này?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Việc định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN.
    • Việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng người tốt nghiệp về nước trong khuôn khổ các chương trình, đề án gửi người đi học nước ngoài bằng NSNN do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý (không nghiên cứu việc cử đi học bằng nguồn vốn ngoài ngân sách hoặc nguồn ngân sách địa phương).
    • Các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đã tốt nghiệp về nước.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi cả nước đối với các đề án do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý; trong đó phần đánh giá thực trạng đi sâu vào nghiên cứu trường hợp Đề án 322/356. Luận án xây dựng định hướng áp dụng trên toàn quốc đến năm 2030.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2000 (thời điểm bắt đầu triển khai Đề án 322) đến năm 2014 (năm kết thúc Đề án 356). Tầm nhìn định hướng được xác lập đến năm 2030.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề liên quan đến định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN theo Đề án 322/356.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề trọng tâm:

1. Các nghiên cứu về cán bộ KHKT và vai trò đối với sự phát triển quốc gia

Tác giả hệ thống hóa định nghĩa về nguồn nhân lực KHKT và nguồn nhân lực chất lượng cao theo các chuẩn mực quốc tế:

  • Tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1975) và Phân loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế (ISCED 2011) của UNESCO phân chia trình độ đào tạo đại học và sau đại học thành các bậc 5, 6, 7 và 8.
  • Phân loại tiêu chuẩn chuyên môn nghề nghiệp quốc tế (ISCO 2011) của UNESCO phân tích kỹ năng nghề nghiệp theo trình độ kỹ năng và kỹ năng chuyên môn.
  • Luật Giáo dục Đại học (2012) của Việt Nam xác định các trình độ đào tạo cao bao gồm cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.

Về mối liên hệ giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế, tác giả điểm lại các luận điểm kinh điển:

  • Schultz (1961), Denison (1967) và World Bank (1991) chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế bắt nguồn từ cải tiến chất lượng lực lượng lao động cùng tiến bộ KHKT và tính kinh tế của quy mô.
  • Nguyễn Quốc Việt và Nguyễn Minh Thảo (2012) xác định ba trụ cột tăng trưởng kinh tế gồm công nghệ mới, hạ tầng cơ sở và chất lượng nguồn nhân lực.
  • Temple (2001) và Lucas (1988) phân tích tác động trực tiếp của vốn con người tới năng suất lao động qua hai cơ chế: hiệu ứng nội sinh (tăng năng suất cá nhân) và hiệu ứng ngoại sinh (lan tỏa năng suất tới các yếu tố sản xuất khác).
  • Hanushek và Kimko (2000), Krueger và Lindahl (trích trong Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008) chứng minh tác động bền vững của chất lượng lao động đến tăng trưởng và mức thu nhập cá nhân.
  • Okoh (1980), Waines (1963), Permani (2009), Liu và Armer (1993) và lý thuyết của Samuelson nhấn mạnh rằng các nước đang phát triển thiếu hụt vốn con người chất lượng cao; đầu tư vào giáo dục và cử cán bộ ra nước ngoài tiếp nhận chuyển giao công nghệ là biện pháp tạo ra lực đẩy từ bên ngoài để vượt qua vòng luẩn quẩn của sự chậm phát triển.

2. Các nghiên cứu về đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

  • Khía cạnh kinh tế của giáo dục: Adam Smith và Alfred Marshall (trích trong Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008), Karl Marx và Cai (1996) xem giáo dục là hình thức đầu tư cơ bản tích lũy vốn con người. Becker (1993), Michael (1972), Becker và cộng sự (1977), Piazza (2002), Fitzimons (1999) phân tích chi tiêu giáo dục dưới góc độ đầu tư mang lại lợi ích kinh tế dài hạn cho cả cá nhân và xã hội. Phân biệt đào tạo và phát triển được làm rõ qua Hamblin (1974) và Võ Xuân Tiến (2010).
  • Lợi ích của việc gửi sinh viên đi học nước ngoài: Bennett (1993) chỉ ra sự tích lũy kiến thức kỹ thuật, ngôn ngữ và khả năng thích ứng văn hóa; Jinyoung Kim (1998) coi du học là hình thức "trao đổi thương mại vốn con người" giúp nhập khẩu kiến thức tiên tiến. Jovanovic và Rob (1989), Rustichini và Schmitz (1991), Tamura (1991) phân tích mối quan hệ giữa khoảng trống kiến thức và mức độ thụ hưởng từ đào tạo.
  • Các quan điểm hoài nghi: Lý thuyết phụ thuộc và lý thuyết thể chế cảnh báo nguy cơ sinh viên tiếp thu giá trị không tương thích với thực tế trong nước hoặc tạo ra sự bất bình đẳng xã hội (Jinyoung Kim, 1998).
  • Đóng góp học thuật: Li Xuaoxuan (2004) khảo sát tại các trường đại học Trung Quốc, Zweig (2006) và Dean Xu (2009) khẳng định lưu học sinh tốt nghiệp tiến sĩ về nước có năng lực nghiên cứu quốc tế, thiết lập mạng lưới hợp tác, xuất bản bài báo và chuyển giao công cụ quản lý học thuật vượt trội so với nhân lực đào tạo thuần túy trong nước.

3. Các nghiên cứu về sử dụng cán bộ KHKT trở về sau khi tốt nghiệp

  • Hiện tượng di cư chất xám: Báo cáo của UNDP và OECD (2009) chỉ ra tốc độ di cư của trí thức từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển gia tăng nhanh chóng.
  • Yếu tố quyết định việc trở về và rào cản sử dụng: Cai (2003), Li Xuaoxuan (2004) nhấn mạnh môi trường làm việc giữ vai trò quyết định hơn là mức lương thuần túy. Dean Xue (2009) nêu các thách thức: ưu tiên nghiên cứu quốc tế so với xuất bản trong nước, rào cản hành chính và sự phân biệt đối xử giữa người học trong nước và người du học về. Zweig (2006) tổng kết 5 trở ngại lớn: thiếu cơ hội thăng tiến, thiếu trang thiết bị nghiên cứu, môi trường làm việc trì trệ, điều kiện sống thấp và thiếu giao lưu học thuật quốc tế.
  • Sai lầm và giải pháp trong tuyển dụng: Zeng Fanqing (2005) chỉ ra 4 ngộ nhận phổ biến khi tuyển dụng du học sinh về nước và nêu 3 nguyên tắc sử dụng (mục tiêu rõ ràng, kết hợp nhân lực trong và ngoài nước, giữ chân nhân tài). Glaser (1978), Kwok và Leland (1982), Baruch và cộng sự (2007) phân tích các động cơ văn hóa và cơ hội nghề nghiệp ảnh hưởng đến quyết định hồi hương. Towers Watson (2014) khảo sát các nguyên tắc đãi ngộ và giữ chân nhân tài.
  • Tại Việt Nam: Nghiên cứu của Trần Văn Nhung (2000) đã bước đầu phác thảo thực trạng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài, song chưa hình thành khung lý thuyết đánh giá định hướng đào tạo và sử dụng bằng nguồn ngân sách.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án tập trung giải quyết ba khoảng trống lớn:

  1. Xây dựng khung lý thuyết và hệ thống khái niệm về "định hướng đào tạo" và "định hướng sử dụng" cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN.
  2. Thực hiện nghiên cứu thực nghiệm độc lập, đánh giá có hệ thống kết quả triển khai Đề án 322/356 thay vì dựa thuần túy vào báo cáo tổng kết hành chính.
  3. Ứng dụng mô hình kinh tế lượng để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của lưu học sinh đối với chương trình học bổng, quyết định tham gia đào tạo và quyết định trở về nước công tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Dựa trên các nghiên cứu về hoạch định chính sách của Nguyễn Như Ý (1998), Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh (2001), Ngô Thắng Lợi (2011), tác giả xác lập các định nghĩa làm nền tảng phân tích:

  • Cán bộ KHKT gửi đi đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN: Là bộ phận nhân lực KHKT trước khi đi học đang công tác tại cơ quan, đơn vị nhà nước; có trình độ, kỹ năng theo quy định pháp luật; được NSNN tài trợ một phần hoặc toàn phần kinh phí đào tạo ở nước ngoài; tốt nghiệp nhận văn bằng, kỹ năng theo phân loại quốc tế và thuộc 7 nhóm ngành: (1) Khoa học cơ bản; (2) Khoa học kỹ thuật và công nghệ; (3) Khoa học y - dược và chăm sóc sức khỏe; (4) Khoa học nông - lâm - ngư; (5) Khoa học xã hội; (6) Khoa học nhân văn; (7) Các ngành khác.
  • Định hướng đào tạo: Hệ thống quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu cần đạt được cùng các giải pháp, chính sách nhằm huy động nguồn lực gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
  • Định hướng sử dụng: Hệ thống quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu cần đạt được cùng các giải pháp, chính sách nhằm bố trí, khai thác hiệu quả năng lực của cán bộ KHKT tốt nghiệp về nước, phát huy tối đa các nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

Khung phân tích định hướng đào tạo và sử dụng gồm 3 thành tố:

  1. Quan điểm và mục tiêu: Định vị vai trò của đào tạo nước ngoài, xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể.
  2. Hệ thống chỉ tiêu cụ thể:
    • Định hướng đào tạo: Quy mô cử đi, cơ cấu ngành nghề đào tạo, cơ cấu đối tượng tuyển chọn, cơ cấu trình độ đào tạo (tiến sĩ, thạc sĩ, đại học), và cơ cấu thị trường/quốc gia tiếp nhận đào tạo.
    • Định hướng sử dụng: Tỷ lệ lưu học sinh về nước sau tốt nghiệp; tỷ lệ trở về cơ quan công tác cũ; vị trí công tác và mức độ thăng tiến; số lượng công trình công bố, sách tham khảo, đề tài nhiệm vụ khoa học, văn bằng bảo hộ sáng chế, giải thưởng khoa học.
  3. Hệ thống chính sách và giải pháp: Nhóm giải pháp tổ chức đào tạo và nhóm giải pháp bố trí, đãi ngộ sau đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp, văn bản quy phạm pháp luật, dữ liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Đào tạo với nước ngoài nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn con người và thực tiễn các đề án.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia quản lý giáo dục, nhà khoa học và người sử dụng lao động để xác định các nhóm tiêu chí đánh giá việc thực hiện định hướng.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Khảo sát, phỏng vấn sâu cán bộ đi học và các cơ quan cử/tiếp nhận nhân lực.
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích tương quan và mô hình hồi quy Logit (với biến phụ thuộc định tính) nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động đến:
    • Quyết định xin đi học nước ngoài;
    • Mức độ hài lòng của lưu học sinh đối với chương trình học bổng NSNN;
    • Quyết định trở về nước công tác sau khi tốt nghiệp.

Dữ liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Dữ liệu thứ cấp: Các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Đào tạo với nước ngoài về Đề án 322/356, Đề án Xử lý nợ với Liên bang Nga, Đề án 911; số liệu giáo dục của UNESCO, OECD, Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua hai cuộc điều tra khảo sát thực hiện từ ngày 29/10/2013, tiếp nhận phản hồi trong vòng 10 tuần:
    1. Khảo sát cá nhân lưu học sinh (LHS): Phát phiếu trực tuyến qua công cụ Google Drive, gửi tới địa chỉ thư điện tử của mẫu 500 cá nhân được lựa chọn ngẫu nhiên từ hơn 3.000 cán bộ thuộc Đề án 322/356 đã tốt nghiệp về nước giai đoạn 2000 - 2013. Kết quả thu về 177 phiếu trả lời hợp lệ thuộc các bậc học khác nhau.
    2. Khảo sát đơn vị sử dụng lao động: Gửi phiếu qua đường công văn chính thức tới 50 cơ quan, đơn vị, bao gồm 10 viện nghiên cứu, 10 bộ/cơ quan ngang bộ và 30 cơ sở giáo dục đại học có cán bộ được cử đi đào tạo và tiếp nhận cán bộ trở về.
Đối tượng khảo sát Phương thức khảo sát Quy mô mẫu chọn Số lượng phản hồi hợp lệ Cơ cấu phản hồi
Cán bộ KHKT (Lưu học sinh về nước theo Đề án 322/356) Trực tuyến qua Google Drive / Email 500 cá nhân 177 cá nhân Đa dạng các bậc học (Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ), tốt nghiệp từ 2000 - 2013
Cơ quan, tổ chức cử và sử dụng cán bộ sau đào tạo Công văn hành chính 50 đơn vị 50 đơn vị 10 Viện nghiên cứu, 10 Bộ/cơ quan ngang Bộ, 30 Cơ sở giáo dục đại học

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi học ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

Chương 1 tập trung phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến ba trụ cột: lý luận về vai trò nguồn nhân lực KHKT đối với tăng trưởng kinh tế, kinh tế học giáo dục trong đào tạo nước ngoài, và các quy luật vận động, quản lý sử dụng nhân tài hồi hương.

Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trên thế giới đã đạt được sự thống nhất cao về vai trò của giáo dục đại học và sau đại học trong việc tạo lập vốn con người (Schultz, Becker, Lucas, Temple). Cử người đi đào tạo ở nước ngoài được xem là phương thức chuyển dịch giáo dục xuyên biên giới và là giải pháp giúp các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách công nghệ với các quốc gia phát triển (Jinyoung Kim, Bennett). Tuy nhiên, các rào cản về môi trường làm việc, khác biệt thể chế và nguy cơ chảy máu chất xám là những vấn đề được nhiều tác giả quốc tế cảnh báo (Zweig, Li Xuaoxuan, Dean Xu, Zeng Fanqing).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu đề cập chung về chiến lược nhân lực hoặc tổng kết định lượng mang tính chất hành chính nghiệp vụ. Luận án khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nghiên cứu chuyên sâu, hoàn thiện khung lý luận về định hướng đào tạo gắn kết với định hướng sử dụng nhân lực đào tạo bằng NSNN.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

Chương 2 làm rõ bối cảnh, vai trò và bản chất tất yếu của việc gửi người ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN. Tác giả luận giải việc cử cán bộ đi học không chỉ phục vụ nhu cầu tiếp thu công nghệ của từng quốc gia mà còn là một mắt xích trong phân công lao động quốc tế.

Tác giả dẫn chứng dữ liệu quốc tế về xu hướng du học:

  • Quy mô lưu học sinh toàn cầu theo OECD (2009) đạt 3,7 triệu người, trong đó 77% theo học tại các nước OECD và 52% tổng số sinh viên du học đến từ châu Á.
  • Dữ liệu của Chow và Bandari (2011) cho biết năm học 2009/2010 có khoảng 271.000 sinh viên Mỹ tham gia học tập, nghiên cứu ở nước ngoài (tăng 88% trong 10 năm), được hỗ trợ bởi các đạo luật như Abroad Abraham Lincoln Act (2006).
  • Chương trình ERASMUS của Liên minh Châu Âu phát triển từ 3.244 sinh viên của 11 nước (năm 1987) lên gần 270.000 sinh viên và 52.000 giảng viên thuộc 33 quốc gia tham gia trong năm học 2012 - 2013 (European Commission, 2014).
  • Học bổng NSNN của nhiều quốc gia tăng mạnh: Brazil tăng học bổng NSNN gấp 12 lần (từ 6.000 lên 73.000 suất qua chương trình "Khoa học không biên giới" trị giá 2,5 tỉ USD); Trung Quốc tăng gấp 4 lần; Ai Cập tăng gấp đôi học bổng tiến sĩ toàn phần; Liên bang Nga nâng quy mô từ 100 suất (1993) lên hơn 2.000 suất (2014).

Kinh nghiệm quốc tế được phân tích sâu tại một số quốc gia:

  • Nhật Bản: Thời kỳ Minh Trị (1872 - 1912) đã định hướng rõ ràng việc cử người sang từng quốc gia phương Tây theo thế mạnh chuyên môn (Pháp: hành chính, luật; Anh, Hà Lan: kỹ nghệ; Mỹ, Đức: kinh doanh).
  • Trung Quốc: Triển khai chính sách du học mạnh mẽ từ năm 1978. Kết quả tạo ra tỷ lệ lớn đội ngũ lãnh đạo học thuật xuất thân từ du học sinh: 77% hiệu trưởng trường đại học/cao đẳng, 84% viện sĩ Viện Khoa học, và 62% tiến sĩ là người từng học tập ở nước ngoài trở về.

Về bối cảnh Việt Nam, chương này thống kê sự phát triển mạng lưới giáo dục đại học trong nước: Tính đến tháng 6/2015, cả nước có 436 trường đại học, cao đẳng (tăng 344 trường so với năm 1986). Quy mô đào tạo năm học 2014 - 2015 tăng 17,9 lần so với năm 1986; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân tăng từ 80 sinh viên (năm 1997) lên 241 sinh viên (năm 2015). Quy mô đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ đạt quy mô lớn với tỷ lệ 10% nghiên cứu sinh tiến sĩ và 90% học viên thạc sĩ. Song song với đó, chính sách gửi người đi đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN chuyển đổi từ dựa vào viện trợ của khối xã hội chủ nghĩa trước 1986 sang chủ động đầu tư ngân sách từ năm 2000.

Tác giả xác lập khung lý thuyết về định hướng đào tạo và sử dụng, định vị các nhân tố ảnh hưởng thuộc về cơ chế chính sách, môi trường học thuật, điều kiện kinh tế và động cơ cá nhân.

Chương 3: Thực trạng thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trong những năm qua (nghiên cứu Đề án 322/356)

Chương 3 đi sâu đánh giá việc triển khai các đề án đào tạo bằng NSNN do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trọng tâm là Đề án 322/356:

  • Thực trạng đào tạo:
    • Phân tích số lượng lưu học sinh được tuyển chọn và số lượng thực tế gửi đi học từ năm 2000 đến 2012; cơ cấu lưu học sinh theo đơn vị công tác (các trường đại học có từ 100 người trúng tuyển trở lên, viện nghiên cứu có từ 15 người trở lên, cơ quan nhà nước có từ 10 người trở lên).
    • Đánh giá cơ cấu ngành nghề được cử đi học; cơ cấu trình độ đào tạo (tiến sĩ, thạc sĩ, đại học thực tập sinh); cơ cấu phân bổ theo châu lục, quốc gia tiếp nhận và danh sách các trường đại học nước ngoài tiếp nhận lưu học sinh.
    • Thống kê chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2000 - 2013 cho Đề án 322/356, chi tiết theo từng trình độ đào tạo.
  • Thực trạng sử dụng:
    • Thống kê số lượng lưu học sinh tốt nghiệp về nước tính đến tháng 4/2014 và năm 2015 phân theo trình độ đào tạo.
    • Đánh giá sự chuyển dịch cơ quan công tác: So sánh cơ quan, vị trí việc làm của lưu học sinh trước khi đi học và sau khi tốt nghiệp trở về.
    • Mức độ phù hợp giữa kiến thức, kỹ năng đào tạo ở nước ngoài với công việc đảm nhận thực tế tại các cơ quan tiếp nhận.
  • Kết quả phân tích định lượng:
    • Luận án xây dựng mô hình Logit nhằm lượng hóa tác động của các biến số: độ tuổi, bằng cấp cao nhất trước khi đi, vị trí công tác, cơ sở đào tạo trước khi đi, ngành học đăng ký và châu lục đến học.
    • Phân tích các nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của lưu học sinh đối với chương trình học bổng, lý do chọn trường/nước đến học, các yếu tố cản trở học tập tại nước ngoài và động cơ quyết định về nước công tác.
    • Chỉ ra những hạn chế: Cơ cấu ngành đào tạo chưa bám sát nhu cầu công nghệ ưu tiên; phân bổ địa bàn du học còn lệch; tình trạng lưu học sinh về nước chưa được bố trí đúng chuyên môn hoặc thiếu trang thiết bị nghiên cứu để duy trì năng lực học thuật.

Chương 4: Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030

Chương 4 xây dựng định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp:

  • Căn cứ định hướng: Phân tích xu hướng phát triển KH&CN toàn cầu; dự báo cung - cầu lao động trình độ cao giai đoạn 2015 - 2035 và mức cầu lao động của ba khối ngành kinh tế đến năm 2035; các quy hoạch phát triển nhân lực của Chính phủ.
  • Nội dung định hướng đến năm 2030:
    • Đề xuất quan điểm và mục tiêu: Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng thực tiễn của cơ quan, doanh nghiệp; ưu tiên đào tạo chất lượng cao ở bậc sau đại học.
    • Định hướng cụ thể về quy mô và cơ cấu: Đề xuất số lượng cán bộ đào tạo chuyên gia cho các lĩnh vực công nghệ ưu tiên, công nghệ trọng điểm và công nghệ mới; đào tạo nhóm nghiên cứu; bồi dưỡng sau tiến sĩ (postdoc); bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý KH&CN.
    • Phân bổ chỉ tiêu đào tạo theo các bậc học và nhóm ngành đến năm 2025 và 2030; định hướng phân bổ ngân sách và lựa chọn cơ sở đào tạo uy tín trên thế giới.
  • Hệ thống giải pháp thực hiện:
    • Nhóm giải pháp về đào tạo: Đổi mới quy trình tuyển chọn công khai, minh bạch; gắn chỉ tiêu cử đi với quy hoạch nhân sự của từng đơn vị tiếp nhận; đa dạng hóa hình thức đào tạo liên kết; tối ưu hóa chi phí đào tạo.
    • Nhóm giải pháp về sử dụng: Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh chuyên môn; xây dựng môi trường làm việc học thuật dân chủ, tạo điều kiện tiếp cận đề tài khoa học các cấp; đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm; cải tiến chính sách đãi ngộ, tiền lương và cơ chế khen thưởng nhằm duy trì cam kết cống hiến lâu dài của cán bộ KHKT sau khi về nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã xây dựng khung nghiên cứu lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN. Công trình xác lập hệ thống khái niệm, quan niệm rõ ràng về bản chất, nội hàm của "định hướng đào tạo" và "định hướng sử dụng", phân biệt hoạt động cử đi học bằng NSNN với du học tự túc hay học bổng phi chính phủ.
  2. Thiết lập hệ thống tiêu chí khoa học để đánh giá việc thực hiện định hướng đào tạo (về quy mô, cơ cấu ngành nghề, đối tượng, trình độ, quốc gia cử đến) và định hướng sử dụng (về tỷ lệ hồi hương, sự phù hợp công việc, thăng tiến nghề nghiệp, năng suất nghiên cứu khoa học).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện, độc lập thực trạng thực hiện Đề án 322/356 trong suốt giai đoạn 15 năm (2000 - 2014) thông qua việc tổng hợp số liệu thứ cấp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp điều tra xã hội học quy mô lớn.
  2. Ứng dụng mô hình kinh tế lượng (hồi quy Logit) để xác định rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi học, mức độ hài lòng với chương trình học bổng và quyết định trở về nước công tác của lưu học sinh.
  3. Luận án chỉ rõ những bất cập tồn tại trong chính sách đào tạo bằng NSNN: Cơ cấu ngành nghề còn dàn trải; chưa gắn kết chặt chẽ giữa đơn vị cử đi học và đơn vị sử dụng lao động; chính sách đãi ngộ và môi trường nghiên cứu sau khi về nước còn nhiều bất cập dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước.
  4. Xây dựng bản khuyến nghị định hướng cụ thể đến năm 2030 về quy mô cử đi, cơ cấu bậc học (ưu tiên tiến sĩ, sau tiến sĩ), các nhóm ngành công nghệ trọng tâm, cũng như đề xuất khung chính sách liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và phát huy năng lực đội ngũ trí thức du học bằng ngân sách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ nghiên cứu cán bộ KHKT được cử đi học bằng nguồn NSNN do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý (tập trung vào Đề án 322/356). Các nhóm đối tượng du học bằng ngân sách của các địa phương, các bộ ngành khác, hoặc du học tự túc không nằm trong phạm vi khảo sát.
    • Về dữ liệu khảo sát: Cuộc điều tra xã hội học trực tuyến thu được 177 phản hồi hợp lệ từ lưu học sinh trên tổng số 500 phiếu gửi đi (từ quần thể hơn 3.000 người đã về nước). Khảo sát đơn vị sử dụng giới hạn ở 50 cơ quan, trường học, viện nghiên cứu. Dữ liệu thực trạng phản ánh chủ yếu giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi đánh giá sang các đề án đào tạo tiếp theo như Đề án 911, Đề án 599 và các chương trình học bổng ngân sách địa phương.
    • Tiếp tục theo dõi, đo lường năng suất công bố quốc tế, chỉ số trích dẫn và các sáng chế thực tế của đội ngũ cán bộ sau 5 - 10 năm hồi hương để đánh giá tác động kinh tế dài hạn của chính sách.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính):
    • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện chính sách cử cán bộ đi học nước ngoài bằng NSNN.
    • Tham khảo khung tiêu chí phân bổ chỉ tiêu đào tạo theo ngành nghề công nghệ trọng điểm và tiêu chuẩn lựa chọn đối tác tiếp nhận du học sinh.
    • Cung cấp luận cứ để hoạch định chính sách thu hút, đãi ngộ và tạo môi trường làm việc phù hợp cho nhân tài trở về phục vụ khu vực công.
  • Đối với các viện nghiên cứu và trường đại học:
    • Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực giảng viên, nghiên cứu viên trình độ cao.
    • Hỗ trợ xây dựng kế hoạch cử cán bộ đi đào tạo gắn kết với định hướng xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và phát triển các bộ môn mới.
  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh:
    • Cung cấp khung lý luận, hệ thống chỉ tiêu phân tích và phương pháp phối hợp giữa điều tra xã hội học với mô hình Logit trong lĩnh vực kinh tế lao động và quản lý giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tập trung nghiên cứu trường hợp cụ thể của đề án nào và giai đoạn thời gian bao lâu?

Luận án tập trung nghiên cứu trường hợp điển hình của Đề án 322 (Chương trình đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước được phê duyệt năm 2000) và Đề án 356 (Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước được điều chỉnh năm 2005). Thời gian nghiên cứu thực trạng bao quát toàn bộ tiến trình từ năm 2000 đến khi đề án kết thúc vào năm 2014.

2. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những đối tượng nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ hai nhóm đối tượng:

  • Nhóm cá nhân lưu học sinh: Khảo sát trực tuyến qua Google Drive đối với 500 cá nhân được chọn ngẫu nhiên từ hơn 3.000 cán bộ thuộc Đề án 322/356 đã tốt nghiệp về nước từ năm 2000 đến 2013; thu về 177 phiếu trả lời hợp lệ.
  • Nhóm cơ quan sử dụng lao động: Gửi công văn khảo sát tới 50 cơ quan, đơn vị, bao gồm 10 viện nghiên cứu, 10 bộ/cơ quan ngang bộ và 30 cơ sở giáo dục đại học tiếp nhận và sử dụng cán bộ sau đào tạo.

3. Cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN được luận án phân loại theo những nhóm ngành nào?

Theo văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo được luận án tổng kết, đối tượng này được phân chia thành 7 nhóm ngành chính:

  1. Khoa học cơ bản;
  2. Khoa học kỹ thuật và công nghệ;
  3. Khoa học y - dược và chăm sóc sức khỏe;
  4. Khoa học nông - lâm - ngư;
  5. Khoa học xã hội;
  6. Khoa học nhân văn;
  7. Các ngành khác.

4. Tại sao luận án lại chọn mốc thời gian định hướng đến năm 2030?

Luận án xác định mốc định hướng đến năm 2030 vì phần lớn các đề án đào tạo bằng NSNN triển khai tại thời điểm nghiên cứu (như Đề án 911, Đề án 599) có chu kỳ thực hiện đến năm 2020. Việc xây dựng định hướng đào tạo và sử dụng cho giai đoạn tiếp theo cần có tầm nhìn dài hạn 10 - 15 năm, phục vụ trực tiếp cho các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đến năm 2030.

5. Kinh nghiệm quốc tế về cử du học sinh được luận án rút ra từ những quốc gia tiêu biểu nào?

Luận án phân tích sâu kinh nghiệm của:

  • Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (chủ động lựa chọn quốc gia cử đi theo thế mạnh từng ngành học);
  • Trung Quốc (chính sách cử du học sinh quy mô lớn từ năm 1978 và cơ chế thu hút nhân tài hồi hương, giúp chiếm lĩnh các vị trí chủ chốt trong các viện nghiên cứu và trường đại học);
  • Brazil (chương trình "Khoa học không biên giới" đầu tư 2,5 tỉ USD cử 100.000 du học sinh);
  • Kinh nghiệm vận hành trao đổi sinh viên quốc tế của Liên minh Châu Âu qua chương trình ERASMUS và chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước. Thông qua việc phân tích thực nghiệm trường hợp Đề án 322/356 giai đoạn 2000 - 2014 bằng phương pháp định tính kết hợp định lượng mô hình Logit, luận án đã làm rõ các thành tựu, bất cập và các nhân tố chi phối quá trình đào tạo cũng như hiệu quả sử dụng cán bộ sau khi về nước. Công trình đã đề xuất hệ thống định hướng cụ thể về quy mô, ngành nghề ưu tiên và các nhóm giải pháp chính sách có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý nguồn nhân lực trình độ cao của Việt Nam đến năm 2030.