Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay: Phương Pháp và Kết Quả

Đánh giá hiệu quả điều trị chậm liền xương và khớp giả ở cẳng tay người lớn bằng phương pháp kết hợp nẹp vít và ghép xương tự thân.

Trường đại học

Bệnh viện Việt Đức

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu
75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số nét chính về giải phẫu và sinh lý vùng cẳng tay

1.2. Đặc điểm về xương

1.3. Đặc điểm về phần mềm

1.4. Mạch máu - thần kinh vùng cẳng tay

1.5. Màng liên cốt

1.6. Chức năng sấp ngửa cẳng tay

1.7. Quá trình liền xương

1.7.1. Sinh lý quá trình liền xương

1.7.2. Các giai đoạn của sự liền xương tại ổ gãy

1.7.2.1. Giai đoạn đầu còn gọi là pha viêm
1.7.2.2. Giai đoạn tạo can xương
1.7.2.2.1. Hình thành can xương mềm
1.7.2.2.2. Hình thành can xương cứng
1.7.2.3. Giai đoạn sửa chữa hình thể can
1.7.2.4. Giai đoạn hồi phục hình thể xương như ban đầu

1.7.3. Các yếu tố tham gia trong quá trình liền xương

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay

Gãy xương cẳng tay là một trong những chấn thương phổ biến, thường xảy ra do tai nạn giao thông, lao động hoặc thể thao. Việc điều trị gãy xương cẳng tay không chỉ đơn thuần là làm liền xương mà còn phải phục hồi chức năng vận động của cẳng tay. Các phương pháp điều trị hiện nay rất đa dạng, từ bảo tồn đến phẫu thuật, tùy thuộc vào mức độ gãy xương và tình trạng bệnh nhân.

1.1. Nguyên Nhân Gây Gãy Xương Cẳng Tay

Gãy xương cẳng tay có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tai nạn giao thông, tai nạn lao động và tai nạn thể thao là những nguyên nhân chính. Theo thống kê, gãy xương cẳng tay chiếm tỷ lệ cao trong các chấn thương xương khớp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Điều Trị Kịp Thời

Việc điều trị kịp thời gãy xương cẳng tay rất quan trọng để tránh các biến chứng như chậm liền xương và khớp giả. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc phục hồi chức năng vận động.

II. Các Phương Pháp Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay Hiện Nay

Có nhiều phương pháp điều trị gãy xương cẳng tay, bao gồm nắn chỉnh, bó bột, và phẫu thuật. Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng và được chỉ định tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân.

2.1. Nắn Chỉnh Và Bó Bột

Nắn chỉnh và bó bột thường được áp dụng cho các trường hợp gãy xương không di lệch hoặc gãy xương ở trẻ em. Phương pháp này giúp giữ cho xương ở vị trí đúng trong quá trình liền xương.

2.2. Phẫu Thuật Kết Hợp Xương

Phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh nội tủy và nẹp vít là phương pháp phổ biến cho các trường hợp gãy xương cẳng tay di lệch lớn. Phương pháp này giúp ổn định xương và thúc đẩy quá trình hồi phục.

2.3. Điều Trị Không Phẫu Thuật

Điều trị không phẫu thuật bao gồm các biện pháp như vật lý trị liệu và phục hồi chức năng. Những phương pháp này giúp cải thiện khả năng vận động và giảm đau cho bệnh nhân.

III. Biến Chứng Trong Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay

Trong quá trình điều trị gãy xương cẳng tay, có thể xảy ra một số biến chứng như chậm liền xương và khớp giả. Những biến chứng này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động của cẳng tay.

3.1. Chậm Liền Xương

Chậm liền xương là một trong những biến chứng phổ biến nhất. Theo thống kê, tỷ lệ chậm liền xương ở gãy xương cẳng tay có thể lên đến 14%. Điều này thường xảy ra do thiếu máu nuôi dưỡng hoặc không ổn định trong quá trình điều trị.

3.2. Khớp Giả

Khớp giả là tình trạng mà xương không liền lại với nhau, dẫn đến việc hình thành một khớp giả. Tình trạng này có thể gây ra đau đớn và hạn chế khả năng vận động của cẳng tay.

IV. Kết Quả Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay

Kết quả điều trị gãy xương cẳng tay phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm phương pháp điều trị, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và mức độ gãy xương. Việc theo dõi và đánh giá kết quả điều trị là rất quan trọng để đảm bảo phục hồi chức năng tốt nhất.

4.1. Đánh Giá Kết Quả Sau Điều Trị

Đánh giá kết quả điều trị gãy xương cẳng tay thường dựa trên khả năng vận động và mức độ đau đớn của bệnh nhân. Các phương pháp như chụp X-quang cũng được sử dụng để kiểm tra tình trạng liền xương.

4.2. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Điều Trị

Các phương pháp điều trị hiện nay đã được áp dụng rộng rãi và cho thấy kết quả khả quan. Nhiều bệnh nhân đã phục hồi hoàn toàn chức năng vận động sau khi điều trị đúng cách.

V. Tương Lai Của Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay

Tương lai của điều trị gãy xương cẳng tay hứa hẹn sẽ có nhiều tiến bộ với sự phát triển của công nghệ y tế. Các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn sẽ được nghiên cứu và áp dụng.

5.1. Công Nghệ Mới Trong Điều Trị

Công nghệ mới như in 3D và robot phẫu thuật có thể cải thiện độ chính xác trong điều trị gãy xương. Những tiến bộ này sẽ giúp giảm thiểu biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị.

5.2. Nghiên Cứu Và Phát Triển

Nghiên cứu về các phương pháp điều trị gãy xương cẳng tay vẫn đang tiếp tục. Các nghiên cứu này sẽ giúp tìm ra những giải pháp tối ưu hơn cho bệnh nhân trong tương lai.

25/06/2025
Đánh giá kết quả điều trị chậm liền xương và khớp giả thân xương cẳng tay ở người lớn bằng phương pháp kết hợp xương nẹp vít với ghép xương tự thân

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Mô ̣t số nét chính về giải phẫu và sinh lý vùng cẳng tay. Đăc̣ điểm về xương. Cẳng tay có hai xương nằm song song theo trục của cẳng tay.Khi làm đô ̣ng tác sấp cẳng tay, xương quay chuyển sang vị tri nằm bắt chéo ở phía trước xương trụ.

Nếu để hai xương tiếp khớp với nhau ở vị trí giải phẫu và đem so sánh ta thấy xương trụ đầu to ở trên và đầu bé xương trụ ở dưới , còn xương quay thì ngược lại [6], [7] Ở phía trên xương trụ cao hơn xương quay nhưng ở dưới thì mỏm trâm quay xuống thấp hơn mỏm trâm trụ khoảng 1,5cm và mỏm trâm trụ lồi ra phía sau nhiều hơn.Khi khám lâm sàng thấy mỏm trâm quay lên ngang bằng hoă ̣c cao hơn mỏm trâm trụ thì có thể khẳng định là xương quay vừa gãy lại vừa có sai khớp quay trụ dưới [19] 1. Xương trụ nằm ở phía trong của cẳng tay và ngắn hơn xương quay khoảng 1,5cm. Xương trụ gồm đầu trên, đầu dưới và thân xương. Thân xương hình lăng trụ tam giác hơi cong ra phía trước và nghiêng ra phía ngoài ở phần dưới để sát gần xương quay.

4 Xương trụ có ba mă ̣t là mă ̣t trước, mă ̣t sau và mă ̣t trong.Mă ̣t sau và mă ̣t trong xương trụ tương đối phẳng nên có ba bờ là bờ trước, bờ sau và bờ ngoài + Đầu trên xương trụ rất to và có hai mỏm (mỏm vẹt trước, mỏm khuỷu ở sau) và có hai hõm (hõm ròng rọc ở giữa hai chỏm và hõm quay ở phía bên ngoài để tiếp khớp với đài quay). + Đầu dưới xương trụ lồi thành mô ̣t chỏm gọi là chỏm xương trụ và có diê ̣n khớp với hõm trụ của xương quay (khớp quay – trụ dưới). Ở phía trong của hõm trụ có mỏm trâm hay ta thường gọi là mỏm trâm trụ [7]. Cấu trúc của xương trụ bao gồm phần xương đă ̣c ở thân và phần xương xốp ở đầu.

Ống tủy xương trụ ở trên lên đến mỏm vẹt nhưng ở 1/4 dưới thì ống tủy không còn nữa, khi gãy thân xương trụ nếu đóng đinh nô ̣i tủy đơn thuần thì không thể chống được di lê ̣ch xoay [14], [32]. Hình ảnh xương trụ và xương quay. Xương quay (radius) Xương quay nằm phía ngoài xương trụ và cũng bao gồm đầu trên, đầu dưới và thân xương. + Thân xương quay có cấu tạo hình lăng trụ tam giác gồm hai đoạn có đô ̣ cong khác nhau.

Đoạn trên từ chỏm xương quay tới lồi củ nhị đầu (chiếm 1/4 trên xương quay) tương đối song song với xương trụ và khi cẳng tay làm đô ̣ng tác sấp thì đoạn này quay quanh trục cẳng tay [7]. 6 Đầu trên và thân xương quay không cùng nằm trên mô ̣t đường thẳng, vì ở 1/4 trên hơi cong ra ngoài và 3/4 dưới thân xương cong vào trong tạo thành góc mở ra ngoài (góc cổ thân). Theo Đỗ Xuân Hợp ở người Viê ̣t Nam góc cổ thân xương quay trung bình là 1620 (từ 1570 – 1700) [7]. Theo Đỗ Xuân Hợp [7], xương quay có thể quay quanh xương trụ được khi sấp ngửa là nhờ có hai yếu tố chính.

+ Có góc cổ thân. + Xương quay có hai đoạn như trên. Thân xương quay gồm ba mă ̣t là mă ̣t trước, mă ̣t sau và mă ̣t trong, có ba bờ là bờ trước, bờ sau và bờ trong.Mă ̣t trước và mă ̣t sau thì tương đối phẳng nên có thể đă ̣t nẹp thuâ ̣n lợi khi kết hợp xương nẹp vít, mă ̣t ngoài 1/3 giữa hơi gồ ghề và cong lồi ra ngoài nên nếu đă ̣t nẹp ở đây phải uốn nẹp cong theo đô ̣ cong của xương quay [34], [38]. Đầu trên xương quay còn gọi là chỏm quay.Chỏm quay trông giống mô ̣t khúc của ống tròn có đường kính từ 20 – 22mm và cao khoảng 8 đến 10mm.

Đầu dưới xương quay to hơn đầu trên nhiều, bè rô ̣ng ra hai bên và dẹt theo chiều trước sau trông như mô ̣t khối vuông.Đầu dưới xương quay có diê ̣n tiếp khớp với chỏm xương trụ ở hõm trụ và diê ̣n tiếp khớp với các xương tụ cốt cổ tay ( diê ̣n tiếp khớp với xương thuyền và xương nguyê ̣t ). Khi gãy 1/3 dưới xương quay nếu có di lê ̣ch chồng thì thường có kèm theo sai khớp quay trụ duới , loại gãy này được gọi là gãy Galeazzi [45] Xương quay có cấu trúc xương xốp ở đầu và xương đă ̣c ở phần thân xương. Ống tủy xương quay ở phía trên lên đến sát chỏm xương quay, ở phía dưới ống tủy chỉ đến 1/4 dưới xương quay là hết. Đăc̣ điểm về phần mềm.

Các cơ vùng cẳng tay. Trên mô ̣t thiết đồ cắt ngang cẳng tay ta thấy hai xương trụ và quay nối liền nhau bằng màng liên cốt. Bờ trước và bờ sau xương quay tách ra 2 vách liên cơ, bờ sau xương trụ dính liền với cân cẳng tay. Đỗ Xuân Hợp chia cẳng tay làm ba khu là khu trươc, khu sau và khu ngoài [17], [19].

Khu cẳng tay trước. Khu này gồm 8 cơ xếp thành 4 lớp: -Lớp nông có 4 cơ là cơ sấp tròn, cơ gấp cổ tay quay, cơ gan tay bé và cơ gấp cổ tay trụ hay là cơ trụ trước. -Lớp giữa có mô ̣t cơ là cơ gấp chung nông cẳng tay. -Lớp sâu gồm hai cơ: là cơ gấp chung sâu và cơ gấp dài ngón cái.

-Lớp thứ tư là cơ sấp vuông. Khu cẳng tay ngoài. Gồm 4 cơ: cơ ngửa dài, cơ ngửa ngắn, cơ duỗi cổ tay quay dài và cơ duỗi cổ tay quay ngắn. Các cơ khu cẳng tay ngoài cùng với các cơ khu cẳng tay sau đều do thần kinh quay chi phối vâ ̣n đô ̣ng.

Khu cẳng tay sau. Gồm 8 cơ xếp thành hai lớp: -Lớp nông có 4 cơ đều bám vào mỏm trên lồi cầu xương cánh tay gồm: cơ khuỷu, cơ duỗi chung ngón tay, cơ duỗi riêng ngón út và cơ trụ sau. -Lớp sâu của khu cẳng tay sau cũng có 4 cơ cùng bám vào mă ̣t sau 2 xương cẳng tay chạy chếch ra ngoài, theo thứ tự từ trên xuống dưới: cơ dạng dài ngón cái, cơ duỗi ngắn ngón cái, cơ duỗi dài ngón cái, và cơ duỗi riêng ngón trỏ. Theo Henry [55], đường mổ vào để kết xương ổ gãy xương quay ở vị trí 1/3G là đường đi theo khe giữa cơ gấp chung nông và các cơ khu cẳng tay 8 ngoài ( cơ ngửa dài và cơ duỗi cổ tay quay dài và cơ duỗi cổ tay quay ngắn.

Mô ̣t số tác giả khác cũng cho rằng đường mổ này là thuâ ̣n lợi cho phẫu thuâ ̣t kết xương quay vì chỉ cần chú ý kéo cơ ngửa dài và cơ duỗi cổ tay quay dài và ngắn ra phía ngoài là sẽ bô ̣c lô ̣ được ổ gãy xương quay để kết hợp xương [55], [50], [51]. Chapman và cô ̣ng sự cho rằng khi mổ vào xương quay ở vị trí 1/3T nên chọn đường Thompson [63]. Đây là đường mổ đi phía sau theo khe giữa cơ ngửa dài , cơ duỗi cổ tay quay dài, cơ duỗi cổ tay ngắn và các cơ khu cẳng tay sau. Theo Chapman đi theo đường mổ này sẽ không làm tổn thương nhánh vâ ̣n đô ̣ng của thần kinh quay [45].2: Thiết đồ cắt ngang 1/3 trên, giữa, dưới cẳng tay [32].

Mạch máu - thần kinh vùng cẳng tay. Theo Đỗ Xuân Hợp [7] khu cẳng tay trước có 4 bó mạch thần kinh bao gồm: + Bó mạch thần kinh quay: gồm có đô ̣ng mạch quay, tĩnh mạch quay và ngành trước của dây thần kinh quay, bó này đi ở giữa cơ ngửa dài và khối cơ trụ, nằm trong bao cơ ngửa dài. Vì vâ ̣y khi mổ vào ổ gãy xương quay, nếu đi đường Henry thì khi kéo cơ ngửa dài cùng bó mạch thần kinh quay ra ngoài như thế sẽ tránh được tổn thương bó mạch này trong mổ [62], [63]. + Bó mạch thần kinh trụ:gồm có đô ̣ng mạch trụ, tĩnh mạch trụ và dây thần kinh trụ ở phía trên cẳng tay thì thần kinh ở xa đô ̣ng mạch và chỉ gă ̣p nhau khi tới chỗ nối giữa 1/3 trên và 1/3 dưới cẳng tay.Dây thần kinh trụ từ rãnh ròng dọc khuỷu đi ra trước chui giữa hai bó cơ trụ trước rồi chạy trong khe giữa cơ trụ trước và khối cơ gấp chung đi thẳng xuống xương đâ ̣u.

Dây thần kinh đi song song và ở phía trong đô ̣ng mạch trụ. Do vâ ̣y khi mổ vào xương trụ mà đi theo đường phía sau thì không lo bị tổn thương bó mạch thần kinh trụ. + Bó mạch thần kinh giữa: gồm có dây thần kinh giữa và đô ̣ng mạch nuôi thần kinh. - Đô ̣ng mạch nuôi thần kinh giữa tách từ đô ̣ng mạch liên cốt trước rất nhỏ nhưng có khi lại phát triển to để thay thế cho nhánh quay gan tay khi thiếu nhánh này.

- Thần kinh giữa ở đoạn cẳng tay chui giữa hai bó cơ sấp tròn rồi chạy vào khoảng giữa cơ gấp chung nông và sâu (nằm ở mă ̣t sau cơ gấp chung nông và nằm trong bao cơ này).Khi đến cổ tay dây thần kinh giữa ở giữa gân cơ gan tay lớn và gân cơ gan tay bé rồi chui qua dây chằng vòng cổ tay xuống gan tay. 10 + Bó mạch thần kinh liên cốt: bó mạch này gồm đô ̣ng mạch liên cốt trước (là nhánh của đô ̣ng mạch trụ) và dây thần kinh liên cốt (là nhánh của thần kinh giữa ) chạy áp sát mă ̣t trước màng liên cốt. + Bó mạch thần kinh liên cốt sau: Bao gồm đô ̣ng mạch liên cốt sau là mô ̣t nhánh của đô ̣ng mạch liên cốt bắt nguồn từ đô ̣ng mạch trụ, chạy qua bờ trên màng liên cốt ra vùng cẳng tay sau và đi giữa cơ duỗi chung ngón tay và duỗi chung ngón út.Ngành sâu của thần kinh quay là ngành vâ ̣n đô ̣ng, ngành này lách giữa hai lớp cơ ngửa ngắn vòng quanh cổ xương quay để ra vùng cẳng tay sau chạy giữa hai lớp cơ nông và sâu của vùng này và phân nhánh vâ ̣n đô ̣ng cho các cơ của vùng. Khi gãy cổ xương quay, ngành vâ ̣n đô ̣ng của dây thần kinh dễ bị tổn thương.

Màng liên cốt. Là mô ̣t màng xơ sợi nối liền giữa xương quay và xương trụ, phía trên bắt đầu từ dưới củ nhị đầu xương quay 2cm, phía dưới kéo dài đến trên khớp quay cổ tay 4cm. Màng liên cốt mỏng ở phía dưới và bền chắc ở trên nhờ có các thớ sợi đến tăng cường. Màng liên cốt ở trên rất hẹp nhưng ở dưới rất rô ̣ng vì thế nó giúp cho xương quay xoay quanh xương trụ trong đô ̣ng tác sấp ngửa cẳng tay [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Điều Trị Gãy Xương Cẳng Tay: Phương Pháp và Kết Quả" cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp điều trị gãy xương cẳng tay, bao gồm cả những kỹ thuật hiện đại và kết quả đạt được. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp để đảm bảo quá trình hồi phục nhanh chóng và hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các phương pháp phẫu thuật, chăm sóc sau phẫu thuật, cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Đánh giá hiệu quả hồi phục cảm giác thần kinh dưới ổ mắt trong điều trị gãy phức hợp gò má, nơi cung cấp thông tin về hồi phục thần kinh trong các trường hợp gãy xương phức tạp. Ngoài ra, tài liệu Đánh giá kết quả phẫu thuật đóng đinh nội tủy sign có chốt điều trị gãy thân 2 xương cẳng chân ở người lớn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phẫu thuật hiện đại trong điều trị gãy xương. Cuối cùng, tài liệu Đánh giá kết quả điều trị chậm liền xương và khớp giả hai xương cẳng tay ở người lớn bằng phương pháp kết hợp xương nẹp vít với ghép xương mào chậu tự thân sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp điều trị chậm liền xương, giúp bạn có thêm thông tin quý giá trong lĩnh vực này.