CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu xương gò má 1.1 Hình thái xương gò má Tần suất cao của gãy PHGM có thể giải thích do vị trí của xương này trong cấu tạo sọ mặt thường xuyên tiếp xúc với các lực bên ngoài [16]. Cấu trúc đôi và vị trí tạo nên hình dạng khuôn mặt nên xương gò má có vai trò quan trọng trong thẩm mỹ và chức năng của tầng giữa mặt [8]. Xương gò má là một xương dày và khỏe, hình 4 cạnh tiếp khớp với 4 xương: xương trán, cánh lớn xương bướm, xương thái dương, xương hàm trên bằng 4 khớp: trán gò má, bướm gò má, thái dương gò má, gò má hàm trên. Xương gò má có ba mặt, bốn bờ và ba góc.
Mặt: • Mặt ngoài lồi, còn gọi là mặt gò má, có vài cơ bám da mặt dính vào. • Mặt sau lõm, còn gọi là mặt thái dương, liên quan với hố thái dương và hố tiếp. • Mặt trong, còn gọi là mặt ổ mắt, là phần trước thành bên ngoài của ổ mắt. Bờ: • Bờ trước và trên là một phần của vành ổ mắt.
• Bờ trước và dưới tiếp khớp với xương hàm trên. • Bờ sau và trên, ở dưới và ở phía trước hố thái dương. Có hai mảnh: mảnh ngang và mảnh thẳng. Mảnh này có mỏm viền.
• Bờ sau và dưới liên tiếp với mỏm tiếp của xương thái dương. Góc: • Góc trên là mỏm trán bướm tiếp khớp với mỏm ổ mắt ngoài của xương trán. • Góc dưới và góc trước tiếp khớp cùng với bờ trước và dưới xương hàm trên. • Góc sau là mỏm tiếp, tiếp khớp với mỏm tiếp xương thái dương.2 Liên quan của xương gò má với các bộ phận giải phẫu lân cận Xương gò má góp phần tạo nên sàn và thành ngoài ổ mắt, nên mọi thay đổi về vị trí và hình thể của xương gò má đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của mắt [8].
Mỏm tiếp của xương gò má có cơ cắn bám và tiếp giáp ở phía trong với cơ thái dương. Nên khi xương gò má gãy thì dễ bị di lệch thứ phát do hoạt động của cơ cắn, và khi mỏm tiếp gãy lún vào bên trong thì thường làm há miệng hạn chế. Cơ thái dương: nguyên uỷ từ sàn hố thái dương và mạc thái dương đi luồn ở mặt trong cung tiếp đến bám ở bờ trước mỏm quạ và bờ trước của ngành lên xương hàm dưới. Vì vậy khi cung tiếp bị gãy lún vào trong thì sẽ chèn ép nhóm cơ này làm há miệng hạn chế.
Ống dưới ổ mắt: nằm trong xương hàm trên, gần với mỏm gò má, nên khi gãy xương gò má thì nó dễ bị vỡ, gián đoạn gây chèn ép dây thần kinh hàm trên nằm ở bên trong ống. Nếu không được điều trị dễ để lại di chứng thần kinh sau này. Dây thần kinh mặt: Thoát ra khỏi sọ ở lỗ trâm chũm, đi giữa hai thuỳ của tuyến mang tai, sau đó toả ra các nhánh tận ở nông. Nhánh thái dương, gò má và má đi gần xương gò má gây cản trở cho phẫu thuật xương gò má.
Xoang hàm: nằm trong xương hàm trên, vì thành xoang mỏng nên nó thường bị vỡ khi có gãy xương gò má, gây chảy máu trong xoang và đôi khi thoát vị các thành phần xung quanh vào trong xoang, gây khó khăn cho việc điều trị. Nhãn cầu: được cấu tạo bởi 3 lớp vỏ. Xung quanh nhãn cầu có các cơ vận nhãn, trong đó có hai cơ. 6 dễ bị ảnh hưởng khi có gãy xương gò má là cơ thẳng dưới và cơ chéo dưới.
Hai cơ này dễ bị tụt kẹt dẫn đến giới hạn vận động nhãn cầu.2 Phân loại gãy hàm gò má Phân loại gãy PHGM là cực kỳ quan trọng vì nó đặt nền tảng cho việc lập kế hoạch điều trị thích hợp và nhờ đó, đạt được tiên lượng tốt nhất có thể. Các hệ thống phân loại đã được mô tả để dự đoán gãy xương loại nào sẽ vững ổn sau kết hợp xương ở các điểm chính yếu. Các hệ thống phân loại này đã phát triển để cung cấp sự đồng nhất trong chẩn đoán và điều trị. Các hệ thống phân loại trước đây dựa phần lớn vào đánh giá hướng di lệch trên phim X quang Waters.
Khi kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được cải thiện nhiều trong những năm qua, việc phân loại các gãy xương này cũng vậy. Manson và cộng sự đề xuất phân loại gãy xương dựa trên các mô hình phân khúc và kiểu di lệch. Họ mô tả các chấn thương năng lượng thấp, năng lượng trung bình và năng lượng cao. Chấn thương năng lượng thấp là những loại gãy xương có sự di lệch tối thiểu đến không có sự di lệch.
Chấn thương năng lượng trung bình chiếm phần lớn hiện tại với gãy xương của tất cả các khớp nối cùng với di lệch vừa phải. Chấn thương năng lượng cao có sự liên quan đến thành ngoài ổ mắt, di lệch sang bên và phân đoạn cung gò má. Gruss và cộng sự đề xuất. 7 một hệ thống phân loại mở rộng của các hệ thống hiện có và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận biết và điều trị gãy xương của cung gò má đơn thuần hay phối hợp[33].
Họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định và điều trị phân đoạn, gãy vụn và tách rời của cung gò má. Zingg và cộng sự đã xem xét 1025 gãy xương và phân loại gãy PHGM thành ba loại - gãy loại A, B và C được mô tả chi tiết ở sau [60]. Các hệ thống phân loại rất hữu ích để chuẩn hóa thuật ngữ, hỗ trợ phát triển kế hoạch phẫu thuật và lựa chọn phương pháp tiếp cận. Phổ biến trong số các hệ thống phân loại này là khi độ di lệch và mức độ gãy vụn tăng lên, thì nguyên tắc là cần nắn chỉnh và cố định hở.1 Phân loại của Markus Zingg (1992) [60] Markus và Zingg đề nghị phân loại gãy gò má chủ yếu dựa trên cơ chế chấn thương, trong đó cường độ lực chấn thương là quan trọng, Markus Zingg chia gãy gò má thánh 3 nhóm: Loại A: gãy khu trú.
Do lực với cường độ thấp, xương chỉ gãy khu trú ở xương gò má, bờ ngoài ổ mắt hay bờ dưới ổ mắt. Không có tình trạng di lệch do các trụ còn lại của xương gò má hoàn toàn bình thường. Loại B: gãy toàn bộ xương gò má. Trong nhóm này, tất cả 4 trụ gò má-trán, gò má-hàm, gò má-thái dương và gò má-cung tiếp đều bị gãy.
Trong trường hợp này là do lực chấn thương với cường độ trung bình. Do đó, kiểu gãy này còn được gọi là kiểu gãy 4 trụ. Trong loại B này, thân xương gò má vẫn nguyên vẹn, nên còn được gọi là gãy gò má nguyên khối. Loại C: gãy xương gò má nhiều mảnh.
Trường hợp này do lực lớn, gây gãy nhiều mảnh trong đó có đường gãy qua thân xương. Phân loại Markus Zingg khá đơn gản, dễ áp dụng trên lâm sàng. Markus Zingg đề xuất phương pháp cho từng loại gãy và đánh giá trên 1025 trường hợp gãy PHGM. Với loại A, chỉ định kết hợp xương là không phù hợp trong một số trường hợp.
Loại B có chỉ định nắn kín hay kết hợp xương cũng không được tác giả phân tích rõ. Phân loại của Zingg. A, Loại A1, gãy cung gò má đơn thuần. B, Loại A2, gãy bờ ngoài ổ mắt.C, Loại A3, gãy bờ dưới ổ mắt.
D, Loại B, gãy toàn bộ xương gò má. E, Loại C, gãy xương gò má thành nhiều mảnh [60]. Phân loại theo Knight J.F Là cách phân loại dễ nhớ nên hay được sử dụng hiện nay, có 6 loại gãy xương gò má [36]: - Loại 1: Gãy xương gò má có di lệch nhưng không đáng kể - Loại 2: Gãy cung gò má - Loại 3: Gãy xương gò má di lệch vào trong (lún) xuống dưới nhưng không bị xoay trục - Loại 4: Gãy xương gò má di lệch xoay vào trong. Có hai biến thể: • Loại 4A: mấu gò má bật ra ngoài • Loại 4B: mỏm trán của xương gò má xoay vào trong - Loại 5: Gãy xương gò má di lệch xoay ra ngoài.
Có hai biến thể: • Đầu gãy ở bờ dưới ổ mắt di lệch lồi lên trên. 9 • Mỏm trán của xương gò má xoay ra ngoài - Loại 6: Gãy phức tạp (trên 3 mảnh) 1.3 Phân loại của Larson O. và Thomson M Phân loại giúp ích nhiều trong việc định hướng điều trị, 4 loại gãy xương gò má: - Loại 1: gãy không di lệch. - Loại 2: khớp trán gò má không bị tách rời, xương gò má bị tụt xuống, phần ngoài của sàn ổ mắt bị giãn ra, có thể chỉ cần điều trị bằng nắn chỉnh mà không cần kết hợp xương.
- Loại 3A: xương gò má vẫn còn dính với xương hàm trên ở khớp gò má hàm trên, nhưng bị tách rời hoàn toàn khỏi xương trán ở khớp trán - gò má, bờ ngoài ổ mắt bị lún vào trong, thường do lực tác động từ trên xuống dưới, góc mắt ngoài bị xệ xuống dưới do mấu ổ mắt ngoài di lệch xuống dưới, sờ dọc theo bờ ngoài ổ mắt thấy gián đoạn. Hướng điều trị là nắn chỉnh và kết hợp xương. - Loại 3B: xương gò má vẫn còn dính với xương hàm trên ở khớp gò má hàm trên, nhưng bị tách rời khỏi xương trán ở khớp trán - gò má, nhưng khác với loại 3A là bờ ngoài ổ mắt bị đẩy lên trên và ra sau, làm mất độ vồng của gò má, xuất hiện một điểm gồ lên ở bờ ngoài ổ mắt do hai đầu gãy lồng vào nhau. Do xương gò má bị đẩy lên cao nên nó sẽ không chèn vào mỏm vẹt và không gây đau khi há ngậm miệng.
Loại gãy này cần được nắn chỉnh kết hợp xương - Loại 4: Xương gò má bị tách rời hoàn toàn, bờ dưới và bờ ngoài ổ mắt bị xoay xuống dưới, sàn ổ mắt mất liên tục, góc mắt ngoài có thể bị sa xuống, bệnh nhân thường bị song thị và lõm mắt. Loại di lệch này thường cần phẫu thuật kết hợp xương và tái tạo lại sàn ổ mắt.4 Phân loại của Fujii và Yamashiro (1983) Phân loại của Fujii và Yamashiro dựa trên phim cắt lớp điện toán [31]. Theo Fujii và Yamashiro, các hình thái di lệch của xương gò má chủ yếu là hướng lực trong bình diện ngang. Do đó, các tác giả này sử dụng mặt cắt ngang của phim cắt lớp điện toán để phân loại gãy phức hợp hàm-gò má-cung tiếp.