Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Khái niệm từ Hán Việt Qua khảo sát, khái niệm từ Hán Việt có rất nhiều qua điểm khác nhau. Đó là những quan niệm sau: Tác giả Nguyễn Như Ý (1996) đã định nghĩa về từ Hán Việt trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” như sau: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán”. Tác giả Phan Ngọc đã viết trong “Mẹo giải nghĩa từ Hán - Việt” (2009) như sau: “Xét về mặt lịch sử, một từ Hán Việt là một từ được viết ra bằng chữ khối vuông của Trung Quốc nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt, người Việt vẫn dùng để đọc mọi văn bản viết bằng chữ Hán, dù đó là của người Hán hay của người Việt.
Xét về chữ, thì chỉ có chữ Hán mà không có chữ Hán Việt. Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của người Việt về chữ Hán”. “Từ Hán Việt và từ Việt gốc Hán là hai khái niệm có nội dung hoàn toàn trùng khớp với nhau. Nhưng theo một số nhà nghiên cứu thì không nên hiểu “Từ Hán Việt” là “toàn bộ các từ Việt gốc Hán” và không phải mọi từ mượn từ tiếng Hán đều là từ Hán Việt.
Từ Hán Việt nói ở đây là từ mượn gốc Hán và được đọc theo âm Hán Việt. Trong “Từ ngoại lai trong tiếng Việt” (Nguyễn Văn Khang, 2007), từ Hán Việt được định nghĩa như sau: “Tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với tư cách là một thuật ngữ ngôn ngữ học, từ Hán Việt được giải thích là từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm và ngữ pháp, ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán. (Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học - NXB GD) Theo lời giải thích trên thì từ Hán Việt và từ Việt gốc Hán là hai khái niệm có sự giao nhau, không phải từ Hán Việt là toàn bộ từ Việt gốc Hán và cũng không phải mọi từ mượn tiếng Hán là từ Hán Việt.
Trong tiếng Việt từ gốc Hán được chia làm hai bộ phận chính: - Từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt: quốc gia, thành thị, thiên hạ, nhan sắc,… - Từ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt bao gồm những từ: + Những từ vào Việt Nam trước thời Đường gọi là những từ Hán cổ: buồng, buồm, cởi, xe, ngà, đìa, chém,… + Những từ Hán Việt được Việt Hóa: in, dao, vuông, gừng,… + Những từ gốc Hán tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ qua cách phát âm địa phương nào đó của tiếng Hán hiện đại: tài xế, mì chính, vằn thắn, xá xíu,… Từ hai bộ phận chính trên chúng ta thấy rằng không phải mọi từ mượn từ tiếng Hán đều là từ Hán Việt. Từ Hán Việt ở đây là những từ mượn gốc Hán và được đọc theo âm Hán Việt. Như vậy, những từ mượn tiếng Hán trước đời Đường gọi là những từ Hán cổ, những từ mượn theo con đường khẩu ngữ (nói theo âm Trung Quốc bây giờ) và những từ Hán Việt bị Việt hóa không được coi là từ Hán Việt. Vì từ ngữ gốc Hán nhưng không đọc theo âm Hán Việt và chỉ được coi là những từ Việt gốc Hán (vì những từ đó đã được nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt).
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với các quan điểm trên, vì những quan điểm đó đều xuất phát từ những khía cạnh, góc nhìn và cách giải quyết khác nhau. Từ đó, chúng tôi có phát biểu khái quát về khái niệm từ Hán Việt như sau: “Từ Hán Việt là những từ mượn tiếng Hán, được đọc theo cách đọc Hán Việt và nhập vào từ vựng tiếng Việt. Đặc điểm của từ Hán Việt Nguồn gốc, lịch sử của từ Hán Việt là gốc Hán, được người Việt tiếp nhận và vay mượn trong thời gian dài nên từ Hán Việt có đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và phong cách như sau: a. Đặc điểm về cấu tạo của từ Hán Việt Căn cứ vào phương thức cấu tạo, từ ngữ Hán Việt chia thành hai loại: từ Hán Việt đơn tiết và từ Hán Việt đa tiết.
* Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt đơn tiết Những từ Hán Việt có ý nghĩa rõ ràng, có khả năng hoạt động tự do, đều được gọi là từ Hán Việt đơn tiết. Từ Hán Việt đơn tiết thường có nghĩa từ vựng gọi tên những sự vật, đặc điểm, tính chất mà tiếng Việt chưa có để gọi tên, nên khi đi vào kho từ vựng tiếng Việt chúng vẫn giữ được khả năng hoạt động tự do. Đại bộ phận từ Hán Việt đơn tiết trong tiếng Việt là danh từ. Ví dụ: - Danh từ chỉ người, như: tướng, quân, quan,… - Danh từ chỉ động vật, như: hổ, báo, phượng, long, ly, quy, … - Danh từ chỉ thực vật, như: tùng, trúc, cúc, mai,táo, bách, lê, … - Danh từ chỉ bộ phận cơ thể như: đầu, não, tủy, thận, … - Danh từ chỉ đơn vị hành chính như: thôn, xã, ấp, huyện, thị, tỉnh, thành phố,… - Danh từ chỉ đồ vật như: sách, bút, phấn,… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Danh từ chỉ kết quả của hoạt động tinh thần: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, tâm, đức, tài, tính, tình, … Còn tính từ, động từ loại này khi đi vào tiếng Việt, khả năng hoạt động tự do là không nhiều (chỉ khoảng trên hai trăm từ).
Từ Hán Việt đơn tiết có mặt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt với số lượng lớn nên các từ Hán Việt đơn tiết xuất hiện nhiều và chia thành từng nhóm. Ví dụ: - Trường từ vựng khí hậu - thời tiết được bổ sung các từ băng, tuyết bên cạnh các từ gió, bão, mưa, dông,… - Trường từ vựng thời gian được bổ sung các từ: giáp, kỉ bên cạnh các từ giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm,… - Trường từ vựng chỉ số đếm tiếng Việt đã đến nghìn nên các từ Hán Việt bổ sung các từ trên một nghìn như vạn, ức, triệu,… - Trường từ vựng thực vật, động vật được bổ sung hàng loạt các khái niệm mới: đậu, cam, ngô, liễu, lê, tùng, cần, hồi, ngải, quế, sâm, cúc, lan, huệ,… (động vật) nhạn, yến, hạc, cốc, kình, nghê, loan, phượng,… (thực vật). - Trường từ vựng tâm lí, tình cảm được bổ sung các từ Hán Việt như: sầu, muộn, khổ, oán, hận, thù, nhục,… Các từ đơn tiết tiếng Hán trở thành từ đơn tiết Hán Việt hoạt động tự do trong tiếng Việt, chúng đã trở nên rất quen thuộc, gần gũi và dễ hiểu với người Việt.
Vì vậy, cảm thức tự nhiên của người Việt thường cho các từ đó là từ thuần Việt. * Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt đa tiết Dựa vào phương thức cấu tạo, từ Hán Việt đa tiết (từ phức) cũng như từ thuần Việt được chia thành hai loại: từ ghép và từ láy. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Từ ghép Hán Việt Có hai loại từ ghép: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập. + Từ ghép chính phụ Từ ghép chính phụ là loại từ ghép được cấu tạo bởi một thành tố chính và một thành tố phụ.
Nghĩa của thành tố này quy định, hạn chế, bổ sung nghĩa cho thành tố kia để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh. Từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau: Yếu tố chính là danh từ: học sinh, thanh niên, nhân loại, tác phẩm,… Yếu tố chính là động từ: ưu đãi, ám thị, tốc kí, cao hứng, hậu tạ, … Yếu tố chính là tính từ: tối tân, cực đại, tương phản, thậm tệ,… Từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau Loại từ ghép này có số lượng ít hơn, yếu tố chính đứng trước có tính chất từ loại khác nhau. Yếu tố chính là yếu tố động: cách mạng, xuất bản, vệ sinh, thương tâm, nhập ngũ, tốt nghiệp, lưu tâm, đả đảo, phóng đại, đề cao, thuyết minh,… Yếu tố chính là yếu tố chỉ tính chất: nhiệt tình, yên vị, yên trí, bổ huyết, tinh ý, mãn ý,… + Từ ghép đẳng lập Từ ghép đẳng lập Hán Việt có cấu tạo như từ ghép đẳng lập thuần Việt. Trong đó các yếu tố cấu tạo từ có vai trò ngữ pháp ngang nhau, cùng chỉ một phạm trù, có quan hệ đồng nghĩa hay lien quan đến nhau trong một trường nghĩa, hoặc trái nghĩa, vì vậy mà nó tạo cho từ có nghĩa khái quát, tổng hợp.
Phân loại từ ghép đẳng lập Hán Việt dựa theo ý nghĩa và ngữ pháp: - Phân loại dựa theo ý nghĩa các thành tố + Nghĩa tương đồng: Hai thành tố tạo nên loại từ ghép này có nghĩa tương tự, nghĩa giống nhau, có thể dùng cái này để giải nghĩa cái kia hoặc gợi ý nghĩa cho cái kia. Ví dụ: hư vô, minh bạch, chu đáo, vĩ đại, băng giá, linh thiêng, kì lạ, dối trá,… 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Nghĩa tương quan: Hai thành tố đứng cạnh nhau, chỉ những sự vật, hiện tượng gần gũi nhau, có quan hệ với nhau, nhắc đến cái này là có thể nghĩ ngay đến cái kia. Ví dụ: vĩnh viễn, sơn thủy, phụ mẫu, tù đày, tranh giành,… + Nghĩa tương phản: Hai thành tố có ý nghĩa khác nhau, trái ngược nhau. Ví dụ: lợi hại, thắng bại, tả hữu, thưởng phạt, trầm bổng,… - Phân loại dựa theo khả năng hoạt động cú pháp + Từ ghép đẳng lập là danh từ Ví dụ: nhân dân, nhân nghĩa, gia đình, quốc gia, âm nhạc, nhân vật, học vấn, hi vọng, ngôn ngữ, cáo thị, thị phi, trầm bổng, thiện ác, bình quân,… + Từ ghép đẳng lập là động từ Ví dụ: đấu tranh, chiến đấu, phẫn nộ, điều tra, trụy lạc, tiếp nhận, giáo dưỡng, kiến trúc, phiêu lưu, biểu thị, đả phá, tàn sát, thương vong,… + Từ ghép đẳng lập gốc Hán là tính từ Ví dụ: vĩ đại, thành thực, đặc thù, lương thiện, hạnh phúc, phú quý, khổ sở, sung sướng, cơ hàn, tán thưởng, phong phú, hoảng hốt,… Trong từ ghép Hán Việt còn có loại từ ghép trùng lặp.