ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành Y tế là một ngành đặc thù, liên quan trực tiếp tới tính mạng và sức khỏe con người. Do vậy, việc học tập và đào tạo liên tục (ĐTLT) nguồn nhân lực y tế có vai trò đặc biệt quan trọng. Ngày nay, các thuật ngữ “Cập nhật năng lực y khoa liên tục” (Continuing Medical Education viết tắt là CME) và “Phát triển nghề nghiệp liên tục” (Continuing Professional Development viết tắt là CPD) do Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra, được sử dụng rộng rãi (1). Các khái niệm này đề cập việc cán bộ y tế (CBYT) sau khi đã hoàn thành giai đoạn đào tạo cơ sở, sẽ học tập trong suốt cuộc đời làm việc của mỗi người để cập nhật kiến thức, kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của người bệnh, các dịch vụ y tế.
Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cũng như nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế nên việc ĐTLT càng trở nên cấp thiết. Phần lớn các nước đều có quy định bắt buộc các nhân viên y tế phải bổ sung kiến thức liên tục, cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức chuyên môn, tổ chức quản lý công việc, đạo đức y học, giảng dạy lâm sàng và nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Ở nước ta, ĐTLT nhân lực y tế đã được triển khai thông qua các hình thức ban đầu như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác trong lĩnh vực y tế (3). Đặc biệt, Bộ Y tế (BYT) cũng đã ban hành các thông tư để hướng dẫn về công tác ĐTLT đối với CBYT, cụ thể là Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008 và sau đó là Thông tư số 22/2013/TT- BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013.
Theo cả 2 thông tư trên, tất cả cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Trong hệ thống y tế, điều dưỡng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Điều dưỡng là những người trực tiếp chăm sóc người bệnh. Năm 2018, nhân sự khối điều dưỡng – hộ sinh chiếm tổng cộng 32,9% tổng số nhân lực các chuyên ngành trong lĩnh vực Y tế (Niêm giám thống kê Y tế 2018) (4).
Với vai trò quan trọng như vậy, việc liên tục cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn và ngoài chuyên môn là một trong những điều quan trọng và cũng đã được cụ thể hóa trong chuẩn năng lực nghề nghiệp cho điều dưỡng (5). 2 Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh (Viện) là bệnh viện hạng 1 và được giao phụ trách chỉ đạo tuyến cho các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên trong lĩnh vực y dược cổ truyền. Với vai trò quan trọng đó, năm 2020, Viện đã điều trị nội trú cho 6.492 người bệnh với tổng số ngày điều trị đạt 108.781 lượt khám bệnh ngoại trú (6). Để đạt được điều này không thể không kể đến vai trò của điều dưỡng viên, chiếm một phần ba tổng số cán bộ nhân viên của Viện.
Công tác ĐTLT nói chung và ĐTLT của điều dưỡng cũng được Ban giám đốc Viện đặc biệt chú trọng. Bên cạnh các lớp đa dạng theo đề án 1816, các dự án, lớp định hướng hoặc các buổi tập huấn, hội thảo, liên kết với các trường đại học lớn, hằng năm phòng Điều dưỡng cũng tổ chức kiểm tra tay nghề cho đội ngũ y sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên tại Viện. Không dừng lại ở đó, vào năm 2019, một nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng ĐTLT tại Viện ghi nhận trong 4 năm từ năm 2015 đến năm 2018, Viện đã đào tạo cho 1.289 lượt học viên và 702 học viên trên tổng số 33 khóa đào tạo và có 74,36% các học viên đánh giá cao tính thiết thực và phù hợp của nội dung đào tạo với công việc của họ (7). Tuy nhiên, nghiên cứu trên thực hiện trên những đối tượng đến học tại Viện, bao gồm cả điều dưỡng và những đối tượng khác, bao gồm cả CBYT trong Viện và ngoài Viện.
Không chỉ vậy, nghiên cứu trên chưa đánh giá nhu cầu về ĐTLT của điều dưỡng trong tương lai. Do vậy, thực trạng và nhu cầu về ĐTLT của điều dưỡng tại Viện vẫn còn có những lổ hỗng cần được tìm hiểu rõ hơn. Từ đó, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Thực trạng và nhu cầu về đào tạo liên tục tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Mình là như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng và nhu cầu trên? Do vậy, nghiên cứu “Đào tạo liên tục của điều dưỡng Viện Y Dược học Dân tộc Thành Phố Hồ Chí Minh: thực trạng giai đoạn 2018-2021, nhu cầu giai đoạn 2022-2023 và một số yếu tố ảnh hưởng” được tiến hành để trả lời những câu hỏi trên. Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng sẽ là cơ sở cho việc khắc phục những bất cập của hiện tại cũng như xây dựng định hướng, kế hoạch đào tạo cụ thể cho tương lai để có thể phát triển chuyên môn, chất lượng nhân sự cho Viện.
Đồng thời, kết quả này cũng sẽ là một nguồn tham khảo đáng tin cậy cho những nghiên cứu có liên quan trong cùng lĩnh vực. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng đào tạo liên tục giai đoạn 2018-2021 của điều dưỡng tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh. Mô tả nhu cầu đào tạo liên tục giai đoạn 2022-2023 của điều dưỡng tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và nhu cầu về đào tạo liên tục của điều dưỡng tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nhân lực y tế Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “nguồn nhân lực y tế”. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực y tế không nhất thiết chỉ là bác sỹ, điều dưỡng mà còn bao gồm cả những người không trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế như cán bộ quản lý hoặc nhân viên giúp việc (8).
Nhân lực y tế là cấu phần cơ bản nhất của hệ thống y tế. Đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực y tế cũng có nghĩa là đảm bảo về chất lượng của hệ thống chăm sóc sức khoẻ quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay trình độ chuyên môn của cán bộ Điều dưỡng tại Việt Nam còn hạn chế. Tỷ lệ điều dưỡng có bằng đại học và sau đại học thấp, chủ yếu là điều dưỡng có trình độ trung cấp, cao đẳng.
Nâng cao năng lực cho cán bộ Điều dưỡng cần tập trung phát triển các kỹ năng cần thiết nhằm hoàn thành tốt công việc cả về chuyên môn lẫn khả năng tổ chức công việc. Việc đào tạo cũng cần phải đi trước nhu cầu xã hội dựa trên những dự báo về nhu cầu cũng như khả năng tài chính, kỹ thuật (9).2 Điều dưỡng viên Theo Florence Nightingale (1860): Điều dưỡng là nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ. Vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh người bệnh để họ phục hồi sức khoẻ một cách tự nhiên (10). Theo Virginia Henderson (1960): Điều dưỡng là giúp đỡ cá nhân đau yếu hoặc khỏe mạnh trong việc thực hiện các hoạt động góp phần hồi phục sức khỏe, mà cá nhân ấy sẽ tự mình làm lấy nếu họ có sức mạnh, ý chí hoặc hiểu biết cần thiết.
Cần làm việc này bằng cách thế nào để họ dành được tính độc lập càng sớm càng tốt (10). Theo Tổ chức Y tế Thế giới: Điều dưỡng là một bộ phận quan trọng trong chăm sóc y tế, là trụ cột của hệ thống y tế. Ở mỗi nước, muốn nâng cao chất lượng y tế phải chú trọng đến nâng cao chất lượng đội ngũ điều dưỡng (10). Theo Hội đồng Điều dưỡng quốc tế: Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình và cộng đồng, người bệnh hay 5 người khỏe và trong mọi tình huống.
Điều dưỡng bao gồm thúc đẩy sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và chăm sóc khi tử vong. Vận động, thúc đẩy một môi trường an toàn, nghiên cứu, tham gia hoạch định chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế và giáo dục cũng là vai trò của điều dưỡng (10).3 Đào tạo liên tục Đào tạo liên tục là “các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân” (11). Ngoài nhu cầu ĐTLT của cá nhân, ngày nay cũng nhấn mạnh đến nhu cầu đào tạo của tổ chức để đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức. Từ đó, chúng ta có thể hiểu nhu cầu ĐTLT chính là nguyện vọng, mong muốn được đào tạo, tập huấn, học tập thêm để trau dồi kiến thức, kỹ năng của con người đáp ứng yêu cầu công việc.
Đào tạo y khoa liên tục (CME) là quá trình CBYT không ngừng cập nhật những kiến thức và tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (CSSK). Đào tạo y khoa liên tục được định nghĩa là “hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của CBYT và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho người bệnh. CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà CBYT mong muốn thực hiện để có thể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyên môn” (12).2 Nhiệm vụ và các quy định về đào tạo của điều dưỡng 1.