ĐẶT VẤN ĐỀ Ngủ là nhu cầu sống còn đối với cơ thể, chiếm 1/3 thời gian của cuộc đời mỗi ngƣời. Trong khi ngủ cơ thể tiết ra những hormone quan trọng giúp quá trình chuyển hóa, tích lũy năng lƣợng cần thiết cho hoạt động trong ngày và quá trình tăng trƣởng cơ thể, giúp não bộ sắp xếp lại những thông tin một cách hệ thống, thiết lập và củng cố khả năng ghi nhớ dài hạn của não bộ [14]. Điều này cần thiết để cho cơ thể phát triển và thích nghi với môi trƣờng sống [52],[57]. Mất ngủ không thực tổn (hay còn gọi là mất ngủ mạn tính) là trạng thái không thoả mãn về số lƣợng và hoặc chất lƣợng giấc ngủ, tồn tại trong một thời gian dài (ít nhất là một tháng), làm ảnh hƣởng đến sức khoẻ và khả năng làm việc của ngƣời bệnh: giảm sự tập trung, sự chú ý, hiệu quả học tập, làm việc, có thể dẫn tới các rối loạn hành vi, ảo giác và hoang tƣởng [4],[16],[34],[45].Các rối loạn thƣờng gặp ở ngƣời bệnh mất ngủ nhƣ khó vào giấc ngủ, tỉnh giấc khó ngủ lại, giấc ngủ không sâu, tỉnh giấc nhiều lần trong khi ngủ [4],[5],[37].
Theo Tổ chức Y tế thế giới, rối loạn giấc ngủ là một vấn đề nghiêm trọng của thế kỷ 21. Nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ở 15 khu vực khác nhau trên thế giới ƣớc tính 26,8% ngƣời trên thế giới bị mất ngủ đƣợc khám và điều trị tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Những nghiên cứu dịch tễ gần đây cho thấy tỷ lệ mất ngủ trong cộng đồng dao động từ 20 - 30 % và tỷ lệ này tăng cao hơn ở ngƣời cao tuổi, mất ngủ tăng theo thời gian vì những căng thẳng trong cuộc sống ngày càng tăng lên : Mỹ có 27% ngƣời bị mất ngủ, Anh có 34%, Pháp có 31%, Italia có 35%, Đan Mạch có 31%, Bỉ có 27%, Tây ban nha 23%, Đức có 23% [58]. Ở Việt Nam, rối loạn giấc ngủ chiếm tỷ lệ khá cao (50 - 80%), thƣờng gặp rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu [12],[20],[37],[42].
Theo YHHĐ, thuốc điều trị mất ngủ chủ yếu là nhóm diazepam, chủ yếu điều trị triệu chứng, nhiều khi chƣa mang lại đƣợc hiệu quả toàn diện. Bên cạnh đó 2 các thuốc này thƣờng gây quen thuốc và dẫn tới tình trạng phụ thuộc thuốc khi dùng lâu dài [45],[46]. YHCT có những bài thuốc quý điều trị mất ngủ có hiệu quả, đƣa bệnh nhân đến giấc ngủ tự nhiên, ít tác dụng không mong muốn và không gây tình trạng quen thuốc. Những ƣu điểm này có thể giúp khắc phục các bất cập mà YHHĐ đang gặp phải trong điều trị mất ngủ hiện nay.
Do vậy hƣớng tìm kiếm và nghiên cứu điều trị mất ngủ bằng thuốc y học cổ truyền hiện đang đƣợc các nhà khoa học quan tâm. Ích khí an thần - HVY là bài thuốc nam kinh nghiệm của lƣơng y Nguyễn Kiều đƣợc dùng điều trị mất ngủ đem lại hiệu quả cao. Để thuận lợi cho quá trình điều trị, thuốc đƣợc bào chế dƣới dạng viên nén dễ sử dụng. Thuốc đã đƣợc chứng minh tính an toàn và hiệu quả dƣợc lý trên động vật thực nghiệm.
Tuy nhiên cho tới nay vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào đánh giá toàn diện viên nén Ích khí an thần – HVY trên lâm sàng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng điều trị mất ngủ không thực tổn của viên nén Ích khí an thần- HVY trên lâm sàng” với 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá độc tính cấp của viên nén Ích khí an thần - HVY trên thực nghiệm. Đánh giá tác dụng điều trị mất ngủ không thực tổn của viên nén Ích khí an thần - HVY trên một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan mất ngủ không thực tổn theo YHHĐ 1. Khái niệm mất ngủ Mất ngủ là trạng thái không thỏa mãn về số lƣợng và/hoặc chất lƣợng của giấc ngủ, tồn tại trong một thời gian dài, làm ảnh hƣởng đến sức khoẻ và khả năng làm việc của ngƣời bệnh [14],[16],[50]. Dịch tễ học : Tỷ lệ mất ngủ chung trong cộng đồng theo nhiều nghiên cứu dao động 20 - 30%.
Năm 2000 tại Pháp, Lerger và cộng sự nghiên cứu trên 12778 các nhân thấy 29% bị mất ngủ thƣờng xuyên. Năm 2001, Sutton và cộng sự báo cáo 24% dân số Canada ở độ tuổi từ 15 trở lên bị mất ngủ. Năm 1999, nghiên cứu của Ishigooka và cộng sự trên 6277 bệnh nhân ngoại trú của 11 bệnh viện ở Nhật bản thấy có 20,3% bị mất ngủ, trong đó có 11,7% bị mất ngủ từ một tháng trở lên. Theo số liệu công bố của viện Gallup (Mỹ) năm 1990 nghiên cứu ở tám nƣớc cho thấy [58]: Tên nƣớc Tỷ lệ ngƣời mất ngủ (%) Tỷ lệ ngƣời mất ngủ mạn tính (%) Pháp 31% 19% Italia 35% 5% Anh 34% 11% Đan mạch 31% 9% Bỉ 27% 9% Tây ban nha 23% 9% Đức 23% 7% Mỹ 27% 9% Sau khi tiến hành một nghiên cứu thăm dò trong dân chúng Mỹ, Franchis (1991) nhận thấy 48% số dân bị mất ngủ.
Trong một nghiên cứu khác, ông lại thấy 36,1% tức là hơn 1/3 số ngƣời bị mất ngủ thƣờng xuyên. 4 * Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng tỉ lệ mắc các vấn đề về giấc ngủ cao hơn ở phụ nữ và các nhóm tuổi cao [34],[57].Đây là một mối quan ngại lớn bởi rất nhiều nƣớc thu nhập thấp hiện nay đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật tăng gấp đôi với áp lực nặng nề do nguồn tài chính hạn hẹp không chỉ từ các bệnh truyền nhiễm nhƣ HIV mà còn từ sự gia tăng các bệnh mạn tính nhƣ tim mạch và ung thƣ [50],[51]. * Các vấn đề về giấc ngủ không liên quan nhiều đến sự đô thị hoá bởi phần lớn những ngƣời đƣợc khảo sát sống ở khu vực nông thôn, ngoại ô. Và con số này có thể cao hơn ở khu vực thành thị.
* Một trong những yếu tố đáng chú ý nhất trong phân tích này đó là sự khác biệt giữa các quốc gia đƣợc tiến hành nghiên cứu [48],[58]. - Trong các nƣớc đƣợc phân tích, Bangladesh có tỷ lệ cao nhất số ngƣời mắc các vấn đề về giấc ngủ - 43,9% ở phụ nữ và cao hơn 23,6% ở nam giới. Nƣớc này cũng có tỷ lệ cao số ngƣời mắc các rối loạn lo âu và trầm cảm [20]. - Tỷ lệ mắc các vấn đề về giấc ngủ đang tăng lên nhanh chóng tại các nƣớc đang phát triển, gần bằng với tỷ lệ đƣợc thấy tại các nƣớc phát triển.
Điều này là do sự gia tăng về tỉ lệ mắc các vấn đề nhƣ trầm cảm và lo âu. - Các nƣớc nhƣ Tanzania, Kenya và Ghana (châu Phi) có tỷ lệ từ 8,3%- 28,5%. - Theo số liệu thống kê, có đến 4% dân số châu Á chịu ảnh hƣởng của bệnh rối loạn giấc ngủ. Dù Việt Nam chƣa có số liệu chính xác, tuy nhiên các bác sĩ khẳng định bệnh này hiện rất phổ biến.
Một khảo sát mới đây tại TPHCM trên 800 ngƣời cho thấy có 20% số ngƣời đƣợc khảo sát bị mất ngủ. Báo cáo tại hội thảo “Vấn đề toàn cầu hoá, thành thị hoá và sức khoẻ tâm thần” ở Huế năm 2010 cho biết, hiện nay ở Việt Nam có 20% dân số đang mắc bệnh “tâm thần hiện đại” do ảnh hƣởng của đô thị hoá. Rối loạn giấc ngủ là một trong số những rối loạn tâm thần này [12],[20]. 5 * Kết quả một số nghiên cứu cũng cho thấy mất ngủ liên quan tới Giới và tuổi: - Theo tổ chức y tế thế giới (1996): số phụ nữ mất ngủ cao khoảng 1,5 lần so với nam giới dù không có sự gia tăng đáng kể theo tuổi tác.
- Theo Mellinger và cs (1989), Gislason và cs (1987) thì tỷ lệ nam/nữ là ½ - Lilfenberg và cs (1988-1989) nhận thấy: 0,9 đến 2,2% ở nữ và 0,3 đến 2,3% nam có mất ngủ mạn tính trong độ tuổi từ 30-63 tuổi. - Lagresi và cs(1983) nhận thấy tỷ lệ mất ngủ tăng lên theo tuổi: 1,65% ở ngƣời dƣới 20 tuổi ; 11,9% ở ngƣời từ 20 – 40 tuổi; 40 % nữ và 20% nam từ 45 – 54 tuổi ; 25% - 30% nam và 40% nữ từ 65 – 69 tuổi. - Tỷ lệ mắc các vấn đề về giấc ngủ ở Indonesia là 3,9% ở nam giới và 4,6% ở phụ nữ. - Theo Lƣơng Hữu Thông (1995) ở Việt Nam tỷ lệ mất ngủ ở Nam: 34,5 – 40% ; Nữ : 60 – 65,5%.
Trong đó phụ nữ trug niên chiếm đa số [36]. Mất ngủ không thực tổn (Nonorganic insomnia) 1. Khái niệm Mất ngủ không thực tổn hay còn gọi là trạng thái mất ngủ mạn tính, tiên phát là trạng thái không thoả mãn về số lƣợng và chất lƣợng giấc ngủ, tồn tại trong một thời gian dài (ít nhất là một tháng) [38]. Triệu chứng - Mất ngủ không thực tổn ( tiên phát) đƣợc đặc trƣng bởi 2 dấu hiệu: + Khó vào giấc ngủ.
+ Hay thức giấc. - Bệnh nhân có thể mất ngủ đầu giấc: họ đi nằm ngủ nhƣ bình thƣờng (ví dụ lúc 10 giờ đêm), nhƣng họ nằm mãi mà không ngủ đƣợc. Các bệnh nhân này thƣờng cho biết phải đến 1-2 giờ sáng họ mới có thể vào đƣợc giấc ngủ; tuy nhiên, giấc ngủ của họ là không sâu và dễ thức giấc. Mất ngủ đầu giấc hay gặp ở ngƣời trẻ tuổi.
6 - Bệnh nhân có thể mất ngủ giữa giấc: biểu hiện bằng việc hơi khó vào giấc ngủ (10 giờ đêm đi nằm ngủ và đến 11 giờ đêm thì ngủ đƣợc). Họ ngủ đƣợc đến 2- 3 giờ sáng thì thức giấc; sau đó, phải mất đến 1-2 giờ thì họ mới ngủ tiếp đƣợc. Mất ngủ giữa giấc hay gặp ở ngƣời trung niên. - Các bệnh nhân cao tuổi thì thƣờng than phiền có mất ngủ cuối giấc.
Họ vào giấc ngủ dễ dàng nhƣng giấc ngủ của họ không kéo dài. Đến khoảng 1-2 giờ sáng thì họ thức giấc và không sao ngủ lại đƣợc. - Mất ngủ hoàn toàn hiếm gặp trong mất ngủ không thực tổn. Chúng có thể là hậu quả của mất ngủ đầu giấc, giữa giấc hay cuối giấc.
Bệnh nhân không hề ngủ đƣợc trong 24 giờ. Do mất ngủ nên họ hay cáu gắt và tỏ ra rất lo lắng cho giấc ngủ của mình. Các bệnh nhân thƣờng có biểu hiện hơi hƣng phấn về sinh lý và tâm lý vào buổi tối. Họ thƣờng quan tâm làm sao để đƣợc ngủ đầy đủ, vì thế họ thƣờng cố gắng tìm mọi cách để ngủ nhƣ loại bỏ các yếu tố gây khó ngủ, nhƣng không thành công.