Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu bệnh mất ngủ trên Thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Mất ngủ ngày càng trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện đại. Mất ngủ tăng theo thời gian vì những căng thẳng trong cuộc sống ngày càng tăng lên, có khuynh hướng tăng cao trong giới nữ, người cao tuổi, người bị rối loạn tâm lý và những người thiệt thòi về kinh tế xã hội [35].
Về tuổi, nhiều nghiên cứu cho rằng, tuổi cao là một yếu tố nguy cơ của mất ngủ Năm Ohayon và cộng sự nghiên cứu đối tượng có độ tuổi từ 15 trở lên thuộc nhiều quốc gia khác nhau gồm Anh, Đức, Italy nhận thấy có hơn / số người từ độ tuổi 65 trở lên có triệu chứng mất ngủ [53]. Tỷ lệ mất ngủ chung trong cộng đồng theo nhiều nghiên cứu dao động khoảng 20 - % Năm , tại Pháp, Lerger và cộng sự nghiên cứu trên 12778 cá nhân thấy 29% bị mất ngủ thường xuyên Năm , Sutton và cộng sự báo cáo 24% dân số Canada độ tuổi từ 15 trở lên bị mất ngủ Năm 1999, nghiên cứu của Ishigooka và cộng sự trên 6277 bệnh nhân ngoại trú của 11 bệnh viện ở Nhật Bản thấy có 20,3% bị mất ngủ, trong đó , % bị mất ngủ từ 1 tháng trở lên. Tỷ lệ các vấn đề về giấc ngủ đang tăng lên nhanh chóng ở các nước phát triển, gần bằng tỷ lệ được thấy ở các nước phát triển. Điều này do sự gia tăng về tỉ lệ mắc các vấn đề như trầm cảm và lo âu Như Tanzania, Kenya và Ghana có tỷ lệ 8,3% - 28,5%, Indonesia là 3,9% ở nam giới và 4,6% ở nữ giới [47].
Tại Việt Nam Theo trung tâm sức khỏe cộng đồng TPHCM cho biết, mỗi ngày ở đây có khoảng người đến khám liên quan đến giấc ngủ, bệnh rối loạn giấc ngủ rất phổ biến như các chứng ngáy, tay chân không yên, khó ngủ. 4 Theo Lương Hữu Thông tỷ lệ mất ngủ khác nhau ở 2 giới: nam 34,5 - 40%, nữ 60,0% - , % Năm , Lý Duy Hưng nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 51 bệnh nhân rối loạn giấc ngủ trong các rối loạn liên quan đến stress thấy 96,1% có hiệu quả giấc ngủ dưới %, trong đó , % có hiệu quả giấc ngủ dưới 65% [20],[34]. Năm , Nguyễn Xuân Bích Huyền và cộng sự lần đầu tiên tiến hành nghiên cứu tỷ lệ hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân Việt Nam có ngáy và rối loạn giấc ngủ tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Chợ Rẫy. Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định qua kết quả đa ký hô hấp hoặc đa ký giấc ngủ.
Tác giả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng này trong nhóm bệnh nhân đến khám vì ngáy và rối loạn giấc ngủ là 88,3% [20]. Năm , Trần Mai Phương Thảo khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị mất ngủ tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương trên bệnh nhân, đã chỉ ra được một số đặc điểm lâm sàng của mất ngủ, đồng thời cho thấy hiệu quả điều trị của các nhóm thuốc ngủ là khác nhau [33]. Năm , tác giả Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, đa ký giấc ngủ và đánh giá hiệu quả thở áp lực dương liên tục ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ thấy hiệu quả giấc ngủ giảm, đạt 61,6% và chứng minh phương pháp này mang lại những kết quả đáng kể [12]. Tổng quan mất ngủ theo Y học hiện đại 1.
Các giai đoạn bình thường của giấc ngủ Ngày nay bằng kết quả nghiên cứu điện sinh lý kết hợp với các hiện tượng tâm sinh lý khác, người ta chia giấc ngủ thành 2 pha: pha nhanh hay còn gọi là pha vận nhanh nhãn cầu (Rapid Eye Movement: REM) và pha chậm hay còn gọi là pha không vận nhanh nhãn cầu (Non Rapid Eye Movement: NREM). Nhãn cầu chuyển động chậm lại, trương lực cơ giảm. + Giai đoạn 2: ngủ chưa sâu, xuất hiện hình thoi trên điện não bắt đầu giấc ngủ, người ngủ yên tĩnh không thấy cử động. + Giai đoạn 3: ngủ sâu, giảm hình thoi và chỉ xuất hiện sóng chậm (2 - Hz) trên điện não, chiếm từ 20 - 50% sóng delta.
+ Giai đoạn 4: ngủ rất sâu, chỉ còn sóng chậm trên điện não (2 - 4Hz), chiếm tới % sóng delta Khi đánh thức người ngủ đột ngột dậy, ở giai đoạn , đôi khi họ bị rơi vào tình trạng lú lẫn với khả năng nhận thức bị biến đổi. Theo dõi trên lâm sàng nhận thấy các cơ bắp giãn mềm, nhịp tim và nhịp thở chậm đều, thân nhiệt giảm dần, huyết áp đạt mức thấp trong giấc ngủ,… Điều này chứng tỏ rằng vai trò lớn của giấc ngủ như trạng thái mà trong đó đã diễn ra một cách tích cực nhất các quá trình hồi phục. - Pha nhanh (REM): về điện sinh lý đặc trưng đối với ba đặc điểm: + Hoạt tính điện thế thấp với tần số lẫn lộn trên điện não. + Giảm hoạt tính điện cơ + Trên điện sinh lý mắt, xuất hiện vận nhanh nhãn cầu.
Về lâm sàng nhận thấy trong pha nhanh, nhịp tim và hô hấp nhanh, huyết áp tăng nhẹ, nhãn cầu vận động nhanh (trong khi vẫn nhắm mắt), ở nam giới thường gặp cương dương vật, nhu cầu tiêu thụ ôxy não tăng cao Trong pha nhanh xuất hiện giấc mơ, nếu chúng ta đánh thức người ngủ trong thời điểm này thì họ cho biết là họ đang mơ Giấc mơ là hiện tượng tâm sinh lý bình thường, nếu giấc mơ bị phá vỡ thì giấc ngủ đó sẽ bị rối loạn và chúng ta sẽ cảm thấy rất mệt. Giấc ngủ diễn ra có tính chu kỳ bắt đầu bằng pha chậm với bốn giai 6 đoạn kế tiếp nhau và kết thúc bằng pha nhanh. Mỗi chu kỳ diễn ra trong khoảng từ 80 - phút, có nghĩa là mỗi đêm ngủ có khoảng 4 - 5 chu kỳ kế tiếp nhau. Trong các chu kỳ đầu của giấc ngủ, pha nhanh kéo dài khoảng 10 phút, càng về sau pha nhanh càng kéo dài hơn và pha chậm ngắn dần [4],[11],[13].
Cơ chế điều hòa giấc ngủ Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc giải thích cơ chế thức - ngủ Cơ chế giấc mộng cũng như cơ chế về sự luân phiên có tính chu kỳ của giấc ngủ. Thuyết Pavlov cho rằng giấc ngủ là trạng thái ức chế lan tỏa khắp hai bán cầu và lan xuống cả vùng dưới vỏ. Giấc ngủ là trạng thái bình thường của hoạt động vỏ não, còn trạng thái thức được duy trì bởi sự hoạt động tích cực của cấu tạo lưới ở thân não. Cấu tạo lưới vừa có ảnh hưởng ức chế đối với vỏ não, nghĩa là nó đóng vai trò hoạt động dẫn truyền thần kinh cũng như duy trì thức tỉnh.
Hoạt hóa từ cấu tạo lưới lên vỏ não là kiểu hoạt hóa không đặc hiệu trong đó có sự tham gia của vùng dưới đồi, đồi thị. Những công trình nghiên cứu gần đây cho biết rằng mất ngủ thường đi đôi với những bệnh tâm thần lẫn thể xác: trầm cảm, suy tim, viêm loét dạ dày,… Ngoài ra, các nhà khoa học tìm thấy rằng mất ngủ kinh niên làm thay đổi hệ thống miễn dịch. Trong 24 giờ, chất cortisol trong nước tiểu người bị mất ngủ kinh niên có tỷ lệ thuận với thời gian mất ngủ. Chất norepinephrine cũng tăng theo tỷ lệ thuận ở những người không đi vào giấc ngủ sâu được (giai đoạn 3 và giai đoạn 4).
Những chất này ở liều lượng cao có thể gây ra nhiều bệnh tật. Thêm nữa, chất kích thích tố sinh trưởng (growth hormone) chỉ tìm thấy được ở thiểu số (3/15) những người bị mất ngủ kinh niên. Chất này cần thiết để giúp các tế bào phục hồi [13]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh mất ngủ 1.
Bệnh nguyên - Các bệnh gây rối loạn giấc ngủ tiên phát: phổ biến nhất là hiện tượng ngừng thở khi ngủ; tình trạng này thường xảy ra ở nam giới béo có hiện tượng ngủ ngáy. Ở những người này, đường thở bị hẹp hoặc tắc nghẽn trong khi đang ngủ. Do giảm tổng lượng oxy tới phổi, gây cảm giác thiếu không khí nên người bệnh thường tỉnh giấc giữa chừng Tuy nhiên, đối với những người ngủ ngáy nhưng không có hiện tượng ngừng thở khi ngủ vẫn có giấc ngủ bình thường. Ngoài ra, các hiện tượng chân tay cử động tự phát khi ngủ cũng gây rối loạn giấc ngủ ở người cao tuổi [21],[23],[25].
- Các bệnh gây rối loạn giấc ngủ thứ phát: các bệnh gây đau (thoái hoá khớp, viêm khớp, loãng xương, đau do thiểu năng động mạch vành ), các bệnh gây tiểu đêm (do u xơ tiền liệt tuyền, đái tháo đường ) hoặc gây khó thở (suy tim, viêm phế quản, hen phế quản ) thường xảy ra vào lúc nửa đêm về sáng, làm cho người bệnh bị tỉnh giấc giữa chừng và sau đó rất khó ngủ tiếp [21],[23],[25]. - Các bệnh lý tâm thần kinh: trầm cảm, hay lo âu (về uy tín, công việc xã hội, công việc gia đình, tình hình tài chính của bản thân và gia đình ), sa sút trí tuệ là những bệnh thường hay gây rối loạn giấc ngủ ở người cao tuổi - Do thuốc: một số loại thuốc khi sử dụng ảnh hưởng tới giấc ngủ Ví dụ: Thuốc mê, cocaine, ma tuý Các thuốc có tác dụng kích thích Các thuốc lợi tiểu Một số thuốc chống suy nhược Các loại thuốc steroid. Các thuốc chẹn beta giao cảm Thuốc giảm đau có chứa caffeine 8 Một số loại thuốc ho Đồng thời, nếu một người đang sử dụng các thuốc gây ngủ hoặc thuốc an thần mà dừng lại đột ngột thì có thể là nguyên nhân gây mất ngủ trở lại. - Mất ngủ do chức năng của cơ thể bị suy giảm: Đây là một nguyên nhân có thể nói là rất khó tránh khỏi.
Tuổi tác càng cao thì mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm, trong đó chức năng của hệ thần kinh trung ương là rất nhạy cảm. - Mất ngủ do ảnh hưởng xấu của môi trường đang sinh sống: Môi trường sống có tác dụng rất lớn đến đời sống con người. Môi trường trong sạch, không bụi bặm, ít tiếng ồn góp phần đáng kể trong cuộc sống của người cao tuổi, làm cho người cao tuổi sống khỏe mạnh, vui vẻ và luôn làm những việc có ích cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Tuy vậy, có một số yếu tố hay gặp như: nhà chật chội, đông người, nhiều tiếng ồn ào, mất vệ sinh… làm cho người cao tuổi rất khó ngủ.