CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH ĐAU NỬA ĐẦU TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1. Tình hình đau nửa đầu trên thế giới Đau nửa đầu là bệnh lý phổ biến chiếm tỷ lệ tương đối cao trong các chứng đau đầu. Theo Viện sức khỏe và lâm sàng Anh ước tính có 190.000 cơn đau nửa đầu ở Anh năm 2011 [9].
Tại Hoa kỳ, cứ 4 hộ gia đình thì có 1 hộ có người bị đau nửa đầu, hơn nữa trên 90% bệnh nhân trong số này là có tiền sử mắc chứng đau nửa đầu. Người ta thấy rằng cứ sau 10 giây thì có một người đến phòng khám cấp cứu phàn nàn về đau đầu và có gần 1,2 triệu người vào viện vì trải qua các cơn đau nửa đầu dai dẳng trong nhiều ngày [10]. Nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng, tại Tây Âu, có khoảng 4,5% dân số bị ít nhất 15 ngày đau đầu mỗi tháng [11]. Các khảo sát trong cộng đồng trên thế giới báo cáo tỉ lệ lưu hành bệnh chiếm khoảng 15% ở phụ nữ và 5% ở nam giới.
Bên cạnh đó, nhiều tác giả thấy tỷ lệ này còn có thể cao hơn (ở Kopenhagen 12 - 19% phụ nữ và 10-11% nam giới mắc bệnh đau nửa đầu (Dalsgaard-Nielsel). Hơn 75% người bị bệnh đau nửa đầu thì trong gia đình họ cũng sẽ có người bị đau nửa đầu. Bệnh thường bắt đầu ở tuổi thanh thiếu niên và hiếm khi bắt đầu sau 60 tuổi. Độ tuổi thường gặp là từ 20 đến 50 tuổi, 90% bệnh nhân đau nửa đầu có cơn Migraine (MG) đầu tiên trước tuổi 40, số bệnh nhân còn lại người ta gọi là bệnh nhân MG muộn [10].
Tình hình đau nửa đầu ở Việt Nam Ở Việt Nam năm 2008, qua điều tra ngẫu nhiên trên 2000 người, Nguyễn Văn Chương và cộng sự thấy tỷ lệ người mắc đau đầu chiếm 78,83%, trong đó có 57,23% người bị đau đầu mạn tính. Đau đầu typ căng thẳng chiếm tỷ lệ cao trong các chứng đau đầu, sau đó phải kể đến đau nửa đầu (Migraine) chiếm 4 19,7%. Bệnh nhân Migraine gặp ở nữ cao gấp 3 lần ở nam (tỷ lệ nam/nữ = 1/3,04), đa số bệnh nhân phát bệnh ở tuổi 20 - 29 (43,8%). Tỷ lệ phát bệnh sau tuổi 40 là 18,0% [12].
ĐAU NỬA ĐẦU THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Định nghĩa đau nửa đầu Đau nửa đầu là chứng đau đầu cơn, có chu kỳ với các đặc điểm khu trú thường ở 1 bên Thái dương, thời gian của cơn thường kéo dài 4 - 72 giờ; với các triệu chứng trong cơn là đau chói, nhói, buồn nôn và nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động [13]. Nguyên nhân và cơ chế của đau nửa đầu Đến nay, nguyên nhân gây ra bệnh đau nửa đầu Migraine là vẫn chưa rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy có sự giãn nở các mạch máu não và giải phóng các chất hóa học (serotonin) gây rối loạn chức năng não dẫn đến các cơn đau đầu dữ dội.
Trước đây, đau nửa đầu từng được cho là rối loạn của riêng hệ thống mạch máu. Nhưng hiện nay, lý thuyết về mạch máu chỉ được coi là nguyên nhân thứ cấp của các rối loạn về não [14], [15]. Đau nửa đầu có thể là triệu chứng của bệnh suy giáp do rối loạn mỗi khi lo lắng [16]. Các thụ thể của melanopsin cũng có vai trò trong sự liên quan giữa đau nửa đầu với sự nhạy cảm ảnh sáng [17].
Thuyết mạch máu – thể dịch Wolf và cộng sự (1963) khái quát lại rằng: Cơn đau đầu do nguyên nhân mạch máu trong não hai pha co và giãn không thích hợp. Pha co mạch ở vỏ não và các tổ chức ngoài sọ không gây đau đầu mà gây các triệu chứng não thoáng qua. Khi sự co thắt dừng lại và mạch máu giãn ra. Thành mạch máu trở nên dễ thẩm thấu hơn gây thoát dịch và kích thích lên các thụ thể đau trong mạch máu ở các mô xung quanh.
Để đáp ứng lại, cơ thể sản sinh cho vùng đó các 5 hóa chất gây viêm. Mỗi lần tim đập, máu đi qua vùng nhạy cảm đó tạo ra một nhịp đau [18]. Tuy nhiên, giả thuyết mạch máu hiện nay được coi là thứ cấp của rối loạn trong não. Thuyết thần kinh Khi một số dây thần kinh nhất định hoặc một vùng trên thân não bị kích thích, cơn đau bắt đầu.
Cơn đau xuất phát từ khu vực sau của vỏ não lan rộng tới rãnh trung tâm và rãnh Sylvius và đạt tới hồi sau trung tâm. Lúc này, cơ thể giải phóng các hóa chất gây viêm. Các hóa chất đó tiếp tục gây kích thích thêm các dây thần kinh, mạch máu và gây ra đau. Chất P là một trong những hoạt chất được giải phóng khi bị kích thích.
Cảm giác đau tăng lên khi chất P giúp chuyển dấu hiệu đau lên não theo hướng thần kinh - mạch máu thông qua phản xạ sợi trục [17], [19], [20], [21]. Thuyết sự phân cực Một hiện tượng gọi là ức chế lan tỏa trên vỏ não (Cortical spreeding depression - CSD) có thể là nguyên nhân của đau nửa đầu [22]. Trong hiện tượng ức chế lan tỏa vỏ não, hoạt động thần kinh bị ức chế ở một vùng vỏ não. Hiện tượng này làm giải phóng các yếu tố gây viêm dẫn đến việc kích thích các dây thần kinh vỏ não, nhất là thần kinh sinh ba, là dây thần kinh truyền đạt các thông tin về cảm giác ở mặt và phần lớn đầu.
Olesen và nhóm tác giả đã đo dòng máu não ở bệnh nhân đau nửa đầu cho thấy có giảm khu trú ở một vùng nhỏ của vỏ vão thường là não sau. Sự phân cực lan tỏa (thay đổi điện não) có thể bắt đầu 24 giờ trước cơn đau và cơn đau bắt đầu khi điện tích não bị phân cực là lớn nhất [23]. Một nghiên cứu của Pháp năm 2007 đã sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp giải phóng positron (SPECT - single photon emission tomo graphy) phát hiện rằng vùng dưới đồi có liên quan đáng kể tới những giai đoạn sớm của cơn đau [24]. 6 Thuyết Serotonin Seretonin là chất truyền đạt thần kinh giúp truyền đạt thông tin giữa các tế bào thần kinh.
Nó giúp kiểm soát cảm nhận đau, hành vi tình dục, giấc ngủ, cũng như sự co giãn mạch máu. Nồng độ serotonin thấp trong não có thể dẫn đến quá trình co giãn mạch máu và kích hoạt cơn đau nửa đầu. Khi bắt đầu cơn, serotonin được giải phóng ra từ các tiểu cầu làm co các động mạch trong não và gây nên các triệu chứng thần kinh khu trú trên lâm sàng; đồng thời serotonin làm tăng tính thấm thành mạch tạo điều kiện cho các plasmakinin thoát ra ngoài kích thích các thụ thể đau quanh mạch; tổ chức quanh mạch bị phù nề, viêm vô khuẩn. Sau đó serotonin bị phân hủy bởi enzym, monoaminooxydase (MAO) thành 5 - hydroxyindol aceticacid và thải ra ngoài qua nưóc tiểu.
Quá trình đó làm nồng độ serotonin trong máu giảm dẫn tới mất trương lực thành mạch, giãn các động mạch trong và/hoặc ngoài sọ kèm theo cảm giác đau [25]. Triệu chứng lâm sàng Những dấu hiệu và triệu chứng của đau nửa đầu thường có biểu hiện khác nhau ở mỗi bệnh nhân. Vì thế cảm giác của bệnh nhân trước, trong và sau mỗi cơn đau thường không được xác định chính xác. Có bốn giai đoạn phổ biến sau đây trong một cơn đau nửa đầu, nhưng không phải tất cả bệnh nhân đều trải qua.
Ngoài ra, các giai đoạn và các triệu chứng trong từng giai đoạn cũng có thể khác nhau trong từng lần đau ở cùng một bệnh nhân [13], [26]. Migrain có tiền triệu gồm các giai đoạn [27]: - Triệu chứng sớm xảy ra vài giờ hoặc vài ngày trước khi bị đau đầu. - Giai đoạn tiền triệu (aura) xảy ra ngay trước cơn đau. - Giai đoạn đau.
- Giai đoạn sau cơn đau. 7 Giai đoạn triệu chứng sớm: Các triệu chứng sớm xảy ra ở 40 - 60% bệnh nhân đau nửa đầu. Giai đoạn bao gồm: thay đổi tính khí, trầm cảm, mệt mỏi, ngáp, ngủ rất nhiều, thèm ăn, căng cơ (nhất là cơ cổ), táo bón hoặc tiêu chảy, tiểu nhiều. Những triệu chứng này xảy ra trước cơn đau vài giờ hoặc vài ngày [28].
Giai đoạn tiền triệu Đối với 20 - 30% bệnh nhân đau nửa đầu có kèm tiền triệu, hiện tượng này là một hiện tượng thần kinh tập trung xảy ra trước hoặc trong một cơn đau đầu. Chúng xuất hiện dần dần từ 5 đến 20 phút và thường kéo dài không quá 60 phút. Giai đoạn đau đầu thường xảy ra trong vòng 60 phút sau giai đoạn tiền triệu, nhưng đôi khi là vài giờ sau và thậm chí có thể không có cơn đau đầu. Triệu chứng của tiền triệu trong đau nửa đầu có thể là về hình ảnh, cảm giác hoặc vận động trong tự nhiên [29].
Tiền triệu về thị giác là hiện tượng thần kinh phổ biến nhất. Đó là sự thay đổi về hình ảnh bao gồm những tia sáng lóe không định hình màu đen trắng hoặc thỉnh thoảng là những tia sáng có màu (chứng lóe sáng) hoặc sự hình thành của những đường zic zắc chói mắt (ám điểm chói lóa); thường được sắp xếp như lỗ châu mai của lâu đài, vì thế còn có tên là "hình ảnh pháo đài" hoặc tiếng Anh là "teichopsia". Một số bệnh nhân mô tả hình ảnh mờ ảo giống như đang nhìn qua một lớp kính mờ hoặc dày, hoặc, trong một số trường hợp là hình ảnh đường hầm và mất hình ảnh một bên [28]. Tiền triệu ở thần kinh xúc giác trong đau nửa đầu bao gồm rối loạn xúc giác ở tay và miệng, cảm giác kim châm ở bàn tay và cánh tay cũng như khu vực mũi miệng cùng bên.
Rối loạn xúc giác lan tỏa lên cánh tay rồi lên vùng mặt, môi và lưỡi. 8 Những triệu chứng khác trong giai đoạn tiền triệu bao gồm ảo giác thính giác và khứu giác, chứng mất khả năng hiểu ngôn ngữ tạm thời, chóng mặt, cảm giác kiến bò và tê ở mặt và đầu chi, và xúc giác quá nhạy cảm [30]. Giai đoạn đau Kiểu đau nửa đầu điển hình là đau một bên không cố định, thường khu trú ở trán và thái dương, đau nhói, mức độ từ trung bình đến dữ dội đau tăng khi hoạt động thể chất, leo cầu thang. Cơn đau có thể ở cả hai bên khi mới bắt đầu hoặc bắt đầu ở một bên và dần chuyển sang cả hai bên và thường đổi bên mỗi lần đau.
Bắt đầu cơn đau thường từ từ. Cơn đau bắt đầu nhẹ sau tăng lên đến cực đại kéo dài 1 - 2 giờ, ở giai đoạn cuối cơn chỉ âm ỉ lan tỏa kèm theo tăng cảm giác da đầu.