CHƯƠNG I TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hệ thống bệnh viện 1. Khái niệm về bệnh viện Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị cơ sở hạ tâng để phục vụ bệnh nhân. Theo quan điềm hiện đại, bệnh viện là một hệ thong, một phức hợp và một tổ chức động: - Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc.
các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. - Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan chàng chịt từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị. - Bệnh viện là một tỏ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế. trang thiết bị, thuốc cần có đê chẩn đoán điều trị.
Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [21 ] 1. Phân loại bệnh viện Theo quy chế bệnh viện cua Bộ Y tế, BVĐK được chia làm 3 hạng: Bệnh viện hạng I: là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho BV hạng 11 Bệnh viện hạng II: là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tĩnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hồ trợ cho BV hạng 111 5 Bệnh viện hạng III: là cơ sở khám bệnh, chừa bệnh của quận, huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tố chức bệnh viện hạng 3 Cơ cấu bệnh viện hạng 3 có những khoa phòng sau: Các phòng chúc năng Phòng Kế hoạch tổng hợp+ Vật tư 3 Phòng Hành chính quản trị và tổ thiết bị y tế chức cán bộ 2 Phòng Y tá (điều dường) 4 Phòng Tài chính kế toán Các khoa chuyên môn 1 KhoaKhám bệnh 8 Khoa dinh dưỡng 2 KhoaHồi sức cấp cứu 9 Liên khoa tai mũi hòng- Răng hàm mặt- Măt Khoa Nội tổng hợp 10 Khoa xét nghiệm (Huyết học- hoá học- Vi sinh) 4 KhoaTruyền nhiễm 11 Khoa chẩn đoán hình ảnh 5 KhoaNhi 12 Khoa giải phẫu ảnh 6 KhoaNgoại tổng hợp 13 Khoa chống nhiễm khuẩn 7 KhoaPhụ sản 14 Khoa dược 14.2 Khái niệm về cung cấp dịch vụ y tế Khả năng cung cấp DVYT gồm: nhân lực, cơ sở vật chat, TTB, thuôc thiêt yếu cũng như nguồn tài chính của cơ sở [13] - Nhân lực y. tế: là một trong những nhân tố quyết định chất lượng các hoạt động trong tất cả các cơ sở của ngành y tế.
Việc thực hiện các dịch vụ CSSK cơ bản phụ thuộc vào nguồn nhân lực y tế. trong tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, do thay đổi cơ chế kinh tế nên tác động rất nhiều đến nhu cầu cán bộ y tế về chất lượng và số lượng đê có thè đáp ứng được nhu câu CSSK cho nhân dân hiện tại cũng như tương lai. 6 - Tài sản: nhà, vật tư, trang thiết bị thông dụng, chuyên dụng đóng vai trò rất quan trọng trong công tác KCB cho nhân dân. TTB y tế là những phương tiện kỹ thuật giúp cho người thầy thuốc nâng cao chất lượng trong công tác chân đoán, chữa bệnh, phòng bệnh, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học - Tài chính: là một yếu tổ rất quan trọng trong các nguôn lực y tê.
Tài chính đảm bảo cho các cơ sở y tế thực hiện nhiệm vụ CSSK nhân dân. - Thuốc thiết yếu: Bộ Y tể ban hành danh mục thuốc thiết yếu (cứ 3-5 năm một lần) dựa trên tiêu chuẩn phù hợp với mô hình bệnh tật. tình hình kinh tế xã hội cũng như các tiến bộ về công nghệ trong trong điều trị của Việt Nam. Các loại thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu phải có hiệu quả cao.
đảm bảo tính an toàn, dễ sử dụng và phù hợp với yêu cầu từng tuyến 14.3 Khái niệm Bảo hiểm y tế, dịch vụ bảo hiểm y tế 14.1Khái niệm bảo hiểm y tế BHYT là một chính sách y tế và xã hội, là một bộ phận của bào hiếm xã hội. về ban chất BHYT là hình thành quỹ từ sự đóng góp tài chính của cộng đong đê chi trả chi phí KCB cho người có thẻ BHYT khi gặp rủi ro về sức khoẻ như đau ốm, bệnh tật. chia sẻ nguy cơ và tránh được những tổn thất tài chính lớn ngoài khả năng chi trả của mồi cá nhân và gia đình. BHYT Việt Nam chính thức ra đời từ năm 1992 theo nghị định 299/HĐBT [15], khi đó mới chi có loại hình BHYT bát buộc áp dụng cho các dối tượng là cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp và các đối tượng hưu trí.
mất sức lao động. Năm 1998 theo nghị định 25/1998 NĐ-CP: BHYT bất buộc có bổ sung các đối tượng khác như:đối tượng có công như thương binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng.đoi tượng ưu đãi xã hội. đối tượng nhiễm chât dộc màu da cam và phát triên nhiều loại hình BHYT tự nguyện khác nhau BHYT học sinh. Thông tư liên bộ số 05/1999 Bộ LĐ TBXH- BYT-BTC về cấp thẻ BHYT 7 hàng năm cho đối tượng người nghèo.
Năm 2002 Thủ tướng chính phủ ra quyết định 139 về KCB cho người nghèo, trong đó có phương thức mua thẻ BHYT cho người nghèo và thực thanh thực chi tại cơ sở KCB công lập. Thông tư Liên bộ số 77/2003/TTLT-BTC-BYT hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện, đối tượng tham gia BHYT tự nguyện: hộ gia đình, hội. học sinh, sinh viên. Ọua 15 năm phát triền và trưởng thành đã khẳng định BHYT là một chính sách đúng của Đảng và nhà nước, được nhân dân tin tưởng và hưởng ứng thực hiện.
Năm 2003 cả nước mới có 3.255 người tham gia BHYT nhưng đến năm 2007 con số này đã lên đến 37.85 triệu người tham gia, góp phần tăng nguồn tài lực cho công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.2 Dịch vụ BHYT Thông tư số 15/1998/BYT-BTC- BLĐTBXH của liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành qui chế khám chữa bệnh Hảo hiểm y tế như sau [11] Các dịch vụ y tế đổi với người có thẻ Bảo hiểm y tế: người có thẻ BHYT khi ốm đau được tiếp nhận KCB ngoại trú và nội trú tại cơ sở KCB ghi trên thẻ Bảo hiểm y tế. Tại cơ sở KCB người có thẻ BHYT được cung cấp các dịch vụ sau: - Khám, chấn đoán và điều trị. - Xét nghiệm, chiếu chụp X- quang, thăm dò chức năng. - Câp thuôc trong danh mục qui định của Bộ Y tê.
- Các thù thuật, phẫu thuật - Sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh. Trong trường hợp vượt quá khả năng điều trị của cơ sở KCB. người có thẻ BHYT được chuyển lên tuyến kỹ thuật cao hơn.4 Chất lượng chăm sóc y tế 14.1 Khái niệm về chất lượng Chất lượng khác nhau với những quan điểm khác nhau. Chat lượng khác nhau tùy theo góc độ của từng đối tượng: Bệnh nhân/khách hàng, nhân viên y tế hay nhà quản lý.
Chất lượng không có một cách ngầu nhiên mà là kết quả cùa ý định quyêt đoán, nồ lực nghiêm túc. hướng đi thông minh và sự thực thi khéo léo. Theo định nghĩa này chất lượng gắn liền các quy trình, nhiệm vụ và kỳ vọng về kết quả thực hiện. Định nghĩa này mô tả một cách rất phù hợp về chất lượng như là các hoạt động, hiện tượng đã được lập kế hoạch, được nhắm tới và phấn đấu để thực hiện.
Chất lượng là làm việc đúng đẳn ngay từ lần đầu tiên và làm điều đó tốt hơn trong những lần tiếp theo. Chất lượng lấy khách hàng làm trung tâm, vì vậy việc đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng là mục đích chính của chat lượng[l]. Những quan niệm về chất lượng được nêu trên, cho thấy chất lượng là một quy trình, phải luôn luôn được cải thiện và lấy khách hàng làm trung tâm.2 Khái niệm về chất lượng chăm sóc y tế Chất lượng chăm sóc y tế là mức độ mà dịch vụ y tế cho cá nhân và cho công chúng nâng cao khả năng đạt được các mong muốn về sức khỏe và tương đồng với kiến thức chuyên môn hiện đại[ 1 ]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chất lượng bao gồm cả hai nội dung (sự gắn bó chặt chẽ giữa nhừng hướng dẫn dựa trên bang chứng và những khuyến cáo thực hành, hiệu quâ trong việc cải thiện những két quả về sức khỏe) và quá trình (hiệu lực.
đúng lúc và sự phổi hợp) của chăm sóc y tế. Đối với cá nhân và công chúng, chất lượng chăm sóc liên quan đến những kỳ vọng và kinh nghiệm của hệ thống y tế và một mức độ nhất định mà một người được trao quyền để đạt được trạng thái sức khỏe tốt hơn[27].3 Sụ hài lòng của bệnh nhân đối vói chất luọng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trên những quan niệm về chất lượng lấy bệnh nhân/khách hàng làm trung tâm, thì sự hài lòng của bệnh nhân/khách hàng dối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần được quan tâm. Những khảo sát của Viện Picker và Trường Đại học Y khoa Harvard trong thập niên 90 đã phân biệt 7 khía cạnh liên quan đến trải nghiệm của cá nhân về chăm sóc y tế: - Tôn trọng giá trị, sở thích và nhu cầu tình cảm của người bệnh (bao gồm tác động của bệnh tật và điều trị trên chất lượng cuộc sống, liên quan đến ra quyết định, nhân phẩm, nhu cầu và tính tự chủ). - Sự phối hợp và thống nhất trong chăm sóc (bao gom chăm sóc lâm sàng, những dịch vụ phụ thuộc và hồ trợ, chăm sóc ngay tại cộng đồng).
- Thông tin, truyền thông và giáo dục (bao gồm tình trạng lâm sàng, diễn tiến và tiên lượng, quá trình chăm sóc. điều kiện tự chủ. tự chăm sóc và nâng cao sức khỏe). - Hồ trợ về cơ thể (bao gồm kiếm soát đau.
giúp đỡ những hoạt động đời sống hàng ngày, môi trường xung quanh và môi trường bệnh viện). - Chia sẽ cảm xúc và làm giảm sự lo sợ (bao gồm tình trạng lâm sàng, điều trị và tiên lượng, tác động của bệnh tật đối với cá nhân và gia đình, tác động tài chính của bệnh tật).