Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân phố dân cư và là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và của sinh vật khác trên trái đất. Như Mác đã khẳng định : “ Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất”, Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này hiệu quả và hợp lí sẽ dẫn đến những thành tựu to lớn, góp phần trong công cuộc đổi mới và là yếu tố quan trọng cho nền tảng một xã hội phát triển ổn định cũng như làm vững mạnh nền kinh tế. Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí. Như vậy, đất đai là điều kiện cơ bản cho quá trình phát triển, song yếu tố mang tính quyết định của nền kinh tế phát triển, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị - xã hội lâu dài lại đến từ việc quản lí, sử dụng đất có hiệu quả, hợp lí, tiết kiệm hay không đất đai cũng chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đất nước.
Nhà nước thống nhất quản lí đất đai nhằm bảo toàn lãnh thổ và khai thác hợp lí, hiệu quả đất đai. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Luật đất đai cũng như các quy định khác vẫn còn nhiều hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện. Nhiều văn bản tính chất pháp lý còn chồng chéo và mâu thuẫn, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình còn chậm đặc biệt là đối với đất ở. Đối với vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị và quyền sở hữu nhà ở thì triển khai còn chưa đồng bộ, kết quả đạt được thấp.
Việc tranh chấp đất đai diễn ra dưới nhiều hình thức… Đứng trước thực trạng đó, để đưa vào việc quản lí và sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả, góp phần vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, cần phải rút kinh nghiệm từ thức tế trong quá trình quản c 2 lí và sử dụng đất. Trên cơ sở đó, xây dựng các biện pháp nhằm quản lí và sử dụng đất hiệu quả hơn, bền vững hơn. Xuất phát từ thực tế đó, được sự nhất trí của Khoa Quản Lý Tài Nguyên, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Quang Thi, em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hữu Vĩnh, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014 - 2016”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát - Đánh giá được kết quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hữu Vĩnh giai đoạn 2014 – 2016. - Phân tích được nguyên nhân của những hạn chế tồn tại và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hữu Vĩnh. Mục tiêu cụ thể - Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Hữu Vĩnh - Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất của xã Hữu Vĩnh - Đánh giá được công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hữu Vĩnh giai đoạn 2014 – 2016 theo 15 nội dung của Luật đất đai 2013 - Đánh giá được sự hiểu biết của người dân và cán bộ quản lý về công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã Hữu Vĩnh - Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn tồn tại, từ đó đưa ra một số đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hữu Vĩnh 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học c 3 Củng cố kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở cấp cơ sở. Giúp cho sinh viên nắm chắc hơn những kiến thức đã học trong nhà trường, học hỏi được kinh nghiệm thực tế để phục vụ cho công việc. Trang bị cho sinh viên ra trường có kiến thức áp dụng vào thực tiễn phục vụ cho công tác quản lý sử dụng đất đai tốt hơn. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hữu Vĩnh, nhằm rút ra được những tồn tại và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được tốt hơn.
c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của công tác quản lý Nhà nước về đất đai 2. Những hiểu biết chung về công tác quản lý Nhà nước về đất đai * Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hoá nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thống quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương tiến hành. Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2013) [5] * Chức năng của quản lý nhà nước về đất đai: Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao c 5 gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có. Nghiên cứu về quan hệ đất đai ta thấy có các quyền năng của sở hữu Nhà nước về đất đai như: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt.
Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước. Hoạt động trên thực tế của các cơ quan Nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai được thể hiện bằng 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai (quy định tại - Luật Đất đai 20013) , tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau: Thứ nhất: Nhà nước phải nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước phải biết rõ các thông tin về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai. Thứ hai: Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất theo quy hoạch, kế hoạch chung thống nhất. Thứ ba: Nhà nước tiến hành thanh tra, giám sát tình hình quản lý và sử dụng đất đai.
Thứ tư: Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất. [2] * Mục đích của quản lý nhà nước về đất đai: - Bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của Nhà nước. - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất.
- Bảo vệ cải tạo đất, bảo vệ môi trường. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2013) [5] * Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai: - Các phương pháp thu thập thông tin về đất đai: Phương pháp thống kê, phương pháp toán học, phương pháp điều tra xã hội học. c 6 - Các phương pháp tác động đến con người trong quá trình quản lý đất đai: Phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp tuyên truyền, giáo dục. * Công cụ quản lý nhà nước về đất đai: - Công cụ pháp luật: Pháp luật là công cụ không thể thiếu được của một Nhà nước, Nhà nước dùng pháp luật để tác động vào ý chí của con người để điều chỉnh hành vi của con người.
- Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung không thể thiếu trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Vì vậy Luật Đất đai năm 2003 quy định “ Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch”. - Công cụ tài chính: Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2013) [5] * Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai: - Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người dân.
- Tiết kiệm và hiệu quả. Cơ sở pháp lý đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai Để công tác quản lý về đất đai được thuận lợi Nhà nước đã ban hành một số văn bản luật và dưới luật sau: • Luật Đất đai 2003 của Quốc Hội ban hành ngày 26/11/2003. • Luật đất đai 2013 của quốc hội ban hành ngày 29/11/2013. • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai năm 2013(Có hiệu lực từ 01/07/2014).
c 7 • Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất. • Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.