CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HIỂU BIẾT BỘ LUẬT LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài Đề tài nghiên cứu về nhu cầu hiểu biết luật của người lao động giúp việc gia đình. Do đó, một số khái niệm mà đề tài sử dụng làm căn cứ cơ sở định hướng đó là: (1) Khái niệm về lao động – Người lao động; (2) Khái niệm về công việc giúp việc gia đình; (3) Khái niệm về lao động giúp việc gia đình.2 Đặc điểm và vai trò của lao động giúp việc gia đình 1.1 Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình - Độ tuổi và giới tính của người LĐ GVGĐ: người lao động giúp việc gia đình tập trung ở nhóm tuổi từ 18-35 và 36-55, trong khi đó, tỷ trọng lao động dưới 18 và trên 56 tuổi chiếm tỷ lệ thấp. Hầu hết người LĐ GVGĐ là nữ giới (98,7%), lao động nam giới (1,3%). - Trình độ học vấn của người LĐ GVGĐ: Đa số người LĐ GVGĐ đều xuất thân từ nông thôn, có hoàn cảnh khó khăn nên nhìn chung trình độ học vấn của LĐ GVGĐ không cao.
Đề tài nghiên cứu khoa học - Lý do đi làm GVGĐ: Lý do chủ yếu mà người lao động chọn làm GVGĐ vì muốn có thêm thu nhập cho cuộc sống bản thân và gia đình.2 Vai trò của lao động giúp việc gia đình - Đối với gia đình của người GVGĐ: Tiền công của lao động giúp việc gia đình là nguồn tài chính chi tiêu chủ yếu trong gia đình, ngoài ra còn tạo nguồn tiết kiệm, tích lũy cho lao động giúp việc gia đình khi hết khả năng lao động. - Đối với gia đình của người thuê LĐ GVGĐ: Lao động giúp việc gia đình giúp người phụ nữ giảm thời gian và sức lực cho công việc nhà, góp phần gia tăng thu nhập cho gia đình gia chủ… - Đối với xã hội: Nghề giúp việc gia đình đã tạo việc làm cho một bộ phận người lao động không có cơ hội, khả năng tìm được việc làm ổn định, góp phần cho sự phát triển của địa phương, nơi xuất thân của người lao động.3 Các quy định pháp luật liên quan đến lao động giúp việc gia đình Hiện nay, quy định pháp luật về “Lao động là người giúp việc gia đình” được trình bày từ Điều 179 đến Điều 183, Mục 5, Chương XI của Bộ luật Lao động năm vi 2012. Sau đó, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 7/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về lao động là người giúp việc gia đình và ngày 15/08/2014, Bộ Lao động – Thương binh xã hội cũng ban hành Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thi hành một số điều từ Nghị định số 27/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài ta chỉ xét 03 vấn đề chính liên quan đến LĐ GVGĐ đó là: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi.4 Đánh giá mức độ hiểu biết luật của người LĐ GVGĐ Mô hình đánh giá mức độ hiểu biết dựa trên khung lý thuyết về sự thay đổi hành vi (Prochaska và DiClemente, 1984,1986) ).
Áp dụng vào đối tượng cụ thể là người lao động giúp việc gia đình, để đánh giá mức độ hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của đối tượng này thì nhóm có sự điều chỉnh về 05 giai đoạn thay đổi hành vi như sau: - Giai đoạn 1: Nhận thức - Trong giai đoạn này, người GVGĐ bắt đầu từ chỗ chưa biết kiến thức, dự định thay đổi hành vi tuân thủ theo quy định của Bộ luật Lao động. Khi tiếp cận thông tin, những người giúp việc đã biết, đã được cung cấp kiến Đề tài nghiên cứu khoa học thức, đã hiểu ra vấn đề. - Giai đoạn 2: Chấp nhận - Người LĐ GVGĐ có các thông tin về lợi ích và rủi ro liên quan đến việc hiểu biết pháp luật, vì vậy họ chấp nhận cần phải hiểu luật nhưng chưa sẵn sàng thay đổi. - Giai đoạn 3: Có ý định - Họ đã có ý định thay đổi và chuẩn bị cho sự thay đổi hành vi của mình.
Tức là sau khi chủ động tìm hiểu rõ các quy định pháp luật, họ dự kiến áp dụng vào các thỏa thuận với chủ sử dụng lao động để đảm bảo quyền lợi cho bản thân. - Giai đoạn 4: Thực hiện - Người giúp việc sẵn sàng thực hiện thay đổi và thay đổi theo kế hoạch của họ. Đây là giai đoạn khó khăn cần có sự giúp đỡ của những người tuyên truyền pháp luật và sự tư vấn của người thân, bạn bè có kinh nghiệm. - Giai đoạn 5: Duy trì - Những người LĐ GVGĐ thực hiện pháp luật và duy trì hành vi mới có lợi cho bản thân trong quá trình tham gia thị trường lao động.5 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động 2012 của người lao động giúp việc gia đình vii Ở đây, nguyên nhân trong từng giai đoạn thay đổi hành vi hiểu biết và tuân thủ các quy định của Bộ luật Lao động đối với người LĐ GVGĐ đó là: Giai đoạn 1: Nhận thức - Trong giai đoạn này, nguyên nhân mà người GVGĐ không thay đổi hành vi sang giai đoạn tiếp theo là vì họ chưa có nắm được các thông tin chung, cơ bản về Bộ luật Lao động 2012.
Hoặc đối với một số người đã biết đến luật nhưng lại không quan tâm vì họ chưa hiểu biết về quyền lợi mà họ được hưởng cũng như chưa nhận thấy nguy cơ tiềm tàng của việc thiếu hiểu biết luật và tuân thủ luật. Do đó, để thuyết phục họ tiến tới giai đoạn tiếp theo thì cần phải nhận thức được nhu cầu của người GVGĐ trong giai đoạn này là họ cần phải được cung cấp các thông tin tổng quát, cung cấp nhiều thông tin hơn liên quan đến lợi ích mà họ nhận được nếu thay đổi hành vi. Giai đoạn 2: Chấp nhận - Ở giai đoạn này, nguyên nhân người LĐ GVGĐ chưa sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng chủ động tìm hiểu các quy định mà luật đưa ra vì vẫn còn thiếu một số thông tin và cần sự trợ giúp từ bên ngoài để đi đến quyết định. Do đó, có thể thấy, nhu cầu của người GVGĐ trong giai đoạn này chính là cần có sự bổ sung Đề tài nghiên cứu khoa học các kiến thức mới, sự động viên khuyến khích thay đổi hành vi từ những người tuyên truyền, giáo dục.
Giai đoạn 3: Có ý định - Khi người giúp việc gia đình có sự chủ động tìm hiểu rõ các quy định pháp luật và dự kiến áp dụng nhưng chưa thực hiện thì nguyên nhân của việc này là do người LĐ GVGĐ thiếu kỹ năng thực tế, chưa biết cách áp dụng như thế nào đối với bản thân. Do vậy, họ cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ chi tiết cách thực hiện như thế nào. Giai đoạn 4 và 5: Thực hiện/ Duy trì - Người giúp việc khi bắt đầu thực hiện hành vi tuân thủ pháp luật, họ có thể thất bại do không nhận được sự hợp tác từ phía chủ nhà. Vì thế, đây là giai đoạn khó khăn cần có sự giúp đỡ của những người tuyên truyền pháp luật và sự tư vấn của người thân, bạn bè có kinh nghiệm.
Như vậy, có thể thấy rằng, đối với từng giai đoạn, việc xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hiểu hiểu là rất cần thiết để từ đó xác định đúng nhu cầu và đáp ứng nhu cầu, giúp đối tượng có thể đạt được mục tiêu thay đổi hành vi mới. viii CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012 TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu về mẫu điều tra 2.1 Các đặc điểm liên quan đến người lao động giúp việc gia đình Nghiên cứu được tiến hành với 150 mẫu điều tra tại 3 quận Hai Bà Trưng, Cầu Giấy, Hà Đông; thu hồi 126 phiếu. Sau khi loại bỏ 08 phiếu không chính xác, còn lại 118 phiếu hợp lệ cho phân tích Đặc điểm mẫu nghiên cứu được mô tả dưới đây: - Phân loại theo giới tính: Đối tượng tham gia công việc GVGĐ chủ yếu là nữ giới (chiếm 94,9%), ở đây vẫn có một tỉ lệ nhỏ nam giới tham gia ở công việc này (5,1%). - Phân loại theo độ tuổi: Người GVGĐ dưới 40 tuổi chiếm 22; từ 40 tuổi trở lên chiếm đến gần 80%, trong đó nhóm người có độ tuổi trên 50 chiếm 39,8%.
- Phân loại theo trình độ học vấn: LĐ GVGĐ có trình độ chiếm tỉ lệ 42,4 %, tiếp đến là nhóm đối tượng trên THCS, chiếm 36,4% và thấp nhất là nhóm đối tượng có trình độ Tiểu học(21,2%) Đề tài nghiên cứu khoa học - Phân loại theo tình trạng hôn nhân: Số lao động GVGĐ vẫn đang còn gia đình chiếm tỉ lệ khá cao (67,8%). Ngoài ra, đa số người GVGĐ đều làm nghề nông (chiếm 65,3%) và sau khi chuyển sang làm công việc GVGĐ mức thu nhập hiện tại của họ ở mức từ 3,5 triệu đồng – 5 triệu đồng.2 Các đặc điểm liên quan đến hoạt động giúp việc gia đình - Hình thức thỏa thuận lao động: Số người GVGĐ “thỏa thuận miệng” với chủ sử dụng lao động chiếm 90,7%, “thỏa thuận bằng giấy tờ” chiếm 9,3%. - Các hình thức công việc GVGĐ: Căn cứ theo Bộ luật Lao động 2012, nhóm điều tra phân loại ra 6 hình thức công việc GVGĐ. Kết quả khảo sát cụ thể là nhu cầu về lau dọn, làm vệ sinh nhà cửa chiếm tỷ lệ cao nhất là 66,95%.
Xếp thứ hai về tỷ lệ phần trăm là lao động giúp việc với mục đích trông trẻ em (55,08%). Tiếp đến là lao động giúp việc với mục đích nấu ăn cho gia đình (53,39%). - Kênh tìm việc làm của lao động GVGĐ: Kênh thông tin tìm việc làm của lao động GVGĐ chủ yếu là qua họ hàng, người thân trong gia đình (49,2%), tiếp đó là qua bạn bè, người quen (28,8%), trung tâm môi giới việc làm và các phương tiện thông tin đại chúng lần lượt là 16,1% và 5,9%. ix - Kinh nghiệm làm GVGĐ: Tỉ lệ người có kinh nghiệm làm việc từ 6 tháng đến dưới 1 năm chiếm 29,7%, tiếp theo là tỉ lệ nhóm người có kinh nghiệm làm việc từ 1 đến dưới 3 năm và từ 3 năm trở lên (lần lượt là 27,1% và 28%).
Thấp nhất hiện nay là tỉ lệ nhóm LĐ GVGĐ có kinh nghiệm dưới 6 tháng (15,3%).