Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của lao động nữ 1. Khái niệm về lao động nữ Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất lao động chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người.
Lao động là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của xã hội loài người. Con người tham gia vào quá trình này được gọi là người lao động. Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành thì “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”[25]. Do đó, để trở thành người lao động, chủ thể của quan hệ lao động thì người đó phải có “khả năng lao động”, thể hiện qua năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.
Năng lực pháp luật lao động của cá nhân là khả năng mà pháp luật quy định cho người lao động có quyền được làm việc, quyền hưởng lương, được bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động…….và phải thực hiện những nghĩa vụ của mình trong quá trình lao động theo hợp đồng lao động đã giao kết. Năng lực hành vi lao động được xác định bởi các yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực. Tức là người lao động đó phải có sức khỏe để thực hiện công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động và khả năng nhận thức của họ phải đạt trình độ nhất định theo yêu cầu, và để có được sự nhận thức nhất định thì về mặt thời gian tương ứng, người lao động phải đạt một độ tuổi nhất định mà pháp luật lao động quy định là từ đủ 15 tuổi. 6 Trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay và hiện tại là Bộ luật lao động 2012 không có bất kỳ một khái niệm chính thức nào về người lao động nữ.
Tuy nhiên, từ sự khác biệt về giới và tổng quan chung trong quan hệ lao động thì có thể hiểu “lao động nữ” là người lao động mà xét về mặt giới tính được xác định là nữ giới. Như vậy, cần xem xét khái niệm lao động nữ dưới các góc độ sau: Thứ nhất: Xét về mặt sinh học lao động nữ là người lao động có “giới tính nữ”. Giới tính theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì giới tính “chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”. Đó là sự khác biệt giữa nam và nữ, nó là bẩm sinh và đồng nhất (trừ những trường hợp có sự can thiệp của y học), chỉ có người phụ nữ mới có khả năng mang thai, sinh con, cho con bú.
Nam giới không thể thay thế cho nữ giới làm những việc trên. Qua đó thấy được tầm quan trọng vô cùng to lớn của người phụ nữ khi họ vừa tham gia vào quá trình lao động sản xuất, vừa là người tái sản xuất ra nguồn lao động cho xã hội thông qua quá trình sinh sản. Thứ hai: Khi tham gia vào quan hệ lao động thì họ cũng đáp ứng đầy đủ năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Vì vậy, họ đã trở thành chủ thể của quan hệ lao động.
Như vậy, một người đủ 15 tuổi bình thường được coi là người có khả năng để tham gia quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động vẫn có thể là người dưới 15 tuổi, có khả năng lao động cũng có thể được tham gia các quan hệ lao động trong những ngành nghề như múa, hát, sân khấu điện ảnh, thủ công mỹ nghệ… đồng thời phải thỏa mãn điều kiện nhất định về độ tuổi, sức khỏe và thời gian làm việc. Tóm lại, dưới góc độ pháp luật lao động, khái niệm về lao động nữ có thể được hiểu như sau: “Người lao động nữ là người có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Đặc điểm của lao động nữ Là một trong những nhóm người lao động đặc thù, người lao động nữ ngoài những đặc điểm chung của người lao động thì họ còn mang những đặc điểm rất khác biệt.
Do đó, để sử dụng nguồn lực này một cách có hiệu quả, cần phải hiểu biết thật rõ ràng về những đặc điểm riêng biệt của người lao động nữ từ đó mới đưa ra được những quy định hợp lý để vừa sử dụng hiệu quả nguồn lao động nữ mà vẫn đảm bảo quyền được làm việc của họ và tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt hai chức năng: chức năng lao động và chức năng làm mẹ, chăm sóc, bảo vệ, nuôi dạy con cái. Những đặc điểm riêng cụ thể như sau: Những đặc điểm mang tính chất tự nhiên: Đó là những khác biệt có sẵn ở nữ giới từ khi sinh ra so với nam giới. Do cấu tạo về hình dáng cơ thể, tâm sinh lý mà chỉ người phụ nữ mới có khả năng sinh đẻ. Sự khác biệt cơ bản giữa lao động nam và lao động nữ chính là việc người phụ nữ sẽ trải qua các thời kỳ mang tính tự nhiên như: mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hằng tháng…Trong những thời kỳ này sức khỏe của lao động nữ sẽ giảm sút, dễ đuối sức, tâm lý cũng phần nào bị ảnh hưởng, họ cũng cần có thời gian để vệ sinh cá nhân.
Vì thế, bản thân người lao động nữ cần phải có một chế độ làm việc, nghỉ ngơi linh hoạt trong thời kỳ kinh nguyệt, trong quá trình mang thai, hoặc thời gian chăm sóc con nhỏ để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bản thân người lao động nữ và thế hệ mai sau của đất nước. So với nam giới thì nữ giới bị hạn chế hơn về mặt thể lực, họ luôn được coi là “phái yếu”, là “chân yếu tay mềm”. Với sức khỏe như vậy nên họ chỉ phù hợp với những công việc nhẹ nhàng, những công việc cần đến sự khéo léo, tỉ mỉ như việc thêu thùa, nội trợ, chăm sóc gia đình.họ không phù hợp với những công việc nặng nhọc, bởi sức khỏe không đáp ứng được, hoặc 8 những công việc phải tiếp xúc với môi trường, hóa chất độc hại vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng sinh sản của họ. Do những đặc điểm tự nhiên về sức khỏe như vậy, nên nữ giới họ bị hạn chế nhiều hơn nam giới trong phạm vi lựa chọn nghề nghiệp của mình.
Những đặc điểm về mặt xã hội: Là những đặc điểm do con người và xã hội tạo nên, nó thay đổi theo điều kiện của xã hội như điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa. Người phụ nữ Việt thường được gắn liền với cụm từ “công - dung - ngôn - hạnh” như một tiêu chí để đánh giá thế nào là một phụ nữ “mẫu mực” xoay quanh vai trò nội trợ “hầu chồng, dạy con”. Bên cạnh đó tư tưởng “trọng nam khinh nữ” còn được thể hiện khi nhiều người mong muốn hoặc nhất quyết phải sinh được con trai để “nối dõi tông đường” vì cho rằng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, khiến cho những người phụ nữ sinh ra con gái bị xem thường. Khi lớn lên thì trình độ giáo dục ở nữ giới thường không cao do phải “nhường nhịn” cơ hội học tập của mình cho nam giới trong gia đình.
Ngoài ra việc bất bình đẳng về giới còn thể hiện qua tệ nạn xã hội mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ như bạo lực gia đình, hiếp dâm…. Những tư tưởng lạc hậu về người phụ nữ và điều kiện khó khăn về kinh tế đã ảnh hưởng rất lớn đến trình độ và chất lượng của nguồn lao động. Nhiều nơi nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa do điều kiện kinh tế khó khăn do đó trẻ em bị hạn chế cơ hội học tập, nên tư tưởng phụ nữ không cần phải học cao mà chỉ cần chuyên tâm ở nhà lo nội trợ. Do giáo dục ảnh hưởng từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” ngay từ nhỏ nên người phụ nữ thường e dè, thụ động và ỷ lại, dẫn đến hiệu quả làm việc không cao.
Hơn nữa họ còn phải chăm lo công việc gia đình song song với việc lao động sản xuất ngoài xã hội nên trong công việc cũng bị hạn chế về mặt thời gian. Đây cũng chính là lý do khiến nhiều nhà tuyển dụng rất ngại khi phải tuyển dụng lao động nữ. Trong 9 nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh khốc liệt về việc làm, lao động nữ càng dễ dàng bị đào thải hơn. Ngày nay, với xu hướng hội nhập và nền kinh tế phát triển nhanh, đòi hỏi chất lượng lao động ngày càng cao, do đó lao động nữ xuất phát từ những đặc điểm về cả tự nhiên và xã hội như đã nêu trên, cho thấy đây rõ ràng là một loại lao động đặc thù, cần có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước.
Bên cạnh những chính sách về việc làm, cần có những quy định pháp luật phù hợp với những đặc điểm riêng của người lao động nữ để giúp họ thực hiện tốt chức năng lao động và chức năng sinh sản của mình. Vai trò của lao động nữ Trong gia đình lao động nữ nắm giữ vai trò quan trọng, là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình. Ngày nay, mặc dù có nhiều phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội và thành công không kém nam giới nhưng nhìn chung công việc nội trợ và quản lý gia đình vẫn là mảng công việc chủ yếu do phụ nữ đảm trách. Phụ nữ là người tay cầm chìa khóa, quyết định chi tiêu mọi việc trong gia đình, từ đi chợ, nấu ăn, giặt giũ đến quét dọn, bày trí, sắp xếp, mua sắm….Đó là mảng công việc lặt vặt, tỉ mỉ, chiếm nhiều thời gian nhưng không thể không có, họ sắp xếp, tổ chức gia đình theo suy nghĩ, nhận thức và tính năng động của mình.
Ngoài ra, phụ nữ có vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình, giữa gia đình nhỏ của mình với họ hàng bên nội, bên ngoại và nối kết giữa bố mẹ với con cái trong chính gia đình nhỏ của mình.