Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động Việt Nam ghi nhận sự đóng góp to lớn từ lực lượng nữ giới, chiếm 25,9 triệu người trên tổng số 53,3 triệu người thuộc lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – đầu tàu kinh tế chiếm 9% dân số cả nước với quy mô dân số trên 8.297,5 ngàn người và đóng góp hơn 1/3 tổng sản phẩm quốc nội (GRDP đạt 513.311 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2017) – lực lượng lao động nữ đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của hơn 172.979 doanh nghiệp. Tuy nhiên, do những khác biệt tự nhiên về thiên chức làm mẹ và định kiến giới truyền thống, lao động nữ vẫn là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, đối mặt với nhiều rủi ro về việc làm, điều kiện làm việc và an sinh xã hội.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí tại Học viện Khoa học Xã hội (2018), tập trung phân tích toàn diện các quy định pháp luật lao động hiện hành điều chỉnh nhóm đối tượng đặc thù này. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá tính tương thích và khả năng thực thi của các quy phạm thuộc Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định số 85/2015/NĐ-CP trong môi trường doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011–2017.

Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn khi cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm để thu hẹp khoảng cách đào tạo nghề (nơi tỷ lệ lao động nữ có bằng cấp chỉ đạt 20,4% so với 37,1% ở nam giới), nâng cao tỷ lệ giao kết hợp đồng lao động chuẩn hóa vượt trên mức 88,5%, đồng thời đề xuất giải pháp khả thi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hơn 1 triệu công nhân đang làm việc tại các khu chế xuất và khu công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết bình đẳng giới trong lao động và lý thuyết bảo vệ nhóm lao động đặc thù. Cơ sở pháp lý tối cao xuất phát từ Điều 26 và Điều 85 Hiến pháp năm 2013, khẳng định nguyên tắc bình đẳng nam nữ và quyền được làm việc trong điều kiện công bằng, an toàn. Hệ thống lý thuyết này được chuẩn hóa thông qua các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tiêu biểu là Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho công việc có giá trị ngang nhau, Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, cùng Công ước số 45 về cấm sử dụng lao động nữ làm việc dưới hầm mỏ.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  1. Người lao động nữ: Là công dân có giới tính nữ từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
  2. Chế độ lao động đặc thù: Hệ thống quy phạm pháp luật ưu tiên về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội nhằm bù đắp đặc điểm tâm sinh lý và thiên chức tái tạo sức lao động của phụ nữ.
  3. Nghề dự phòng: Nghề nghiệp bổ trợ được đào tạo song song nhằm bảo đảm việc làm liên tục cho lao động nữ khi không còn đủ điều kiện làm công việc hiện tại.
  4. Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ: Đơn vị sử dụng từ 10 đến dưới 100 lao động nữ (chiếm từ 50% tổng số lao động trở lên), từ 100 đến dưới 1.000 lao động nữ (chiếm từ 30% trở lên), hoặc sử dụng trên 1.000 lao động nữ theo quy định tại Nghị định số 85/2015/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động (FALMI), cùng các báo cáo chuyên đề của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) giai đoạn 2011–2017.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm dữ liệu phân tích từ 73.307 doanh nghiệp thu thập thông tin về cầu lao động, 3.304 công nhân tham gia kỳ thi nâng bậc thợ năm 2015, cùng số liệu tổng hợp từ 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thực hiện chính sách giảm thuế. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo các nhóm ngành kinh tế trọng điểm như dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, thương mại và dịch vụ. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu thống kê và phương pháp tổng hợp quy nạp. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan bức tranh thực thi pháp luật trong bối cảnh thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh có mức độ cạnh tranh gay gắt nhất cả nước với tỷ lệ 1/48 ứng viên cho một vị trí tuyển dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn về chất lượng và cơ hội thăng tiến giữa hai giới dù tỷ lệ tham gia thị trường lao động của nữ giới đạt mức cao 60,9% (so với 76,5% ở nam giới). Số liệu thống kê giai đoạn 2011–2015 cho thấy tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo tại thành phố chỉ tăng từ 13,9% lên 20,4%, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ 37,1% của lao động nam năm 2015. Hơn nữa, độ tuổi của lao động nữ tập trung cao nhất ở nhóm 25–34 tuổi và đang bước vào xu hướng già hóa nhanh.

Thứ hai, tình trạng phân biệt đối xử theo giới trong tuyển dụng vẫn diễn ra tinh vi. Mặc dù tỷ lệ ký kết hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp đạt 88,5%, nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước vẫn áp dụng các tiêu chí ngầm như ưu tiên nam giới cho vị trí quản lý có thu nhập cao, chỉ tuyển lao động nữ đơn thân, hoặc yêu cầu cam kết hoãn mang thai trong 2–3 năm đầu làm việc.

Thứ ba, chính sách ưu đãi tài chính dành cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ rơi vào tình trạng vô hiệu hóa trên thực tế. Khảo sát tại 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy chỉ có 2 địa phương (Nghệ An và Bình Định) có doanh nghiệp được xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định số 85/2015/NĐ-CP; tại Thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết doanh nghiệp không tiếp cận được chính sách này do rào cản thủ tục hành chính phức tạp.

Thứ tư, cơ sở hạ tầng phúc lợi xã hội chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của nữ công nhân. Toàn thành phố có hơn 250.000 công nhân làm việc tại các khu chế xuất và khu công nghiệp với khoảng 40.000 trẻ em trong độ tuổi mầm non, nhưng 14 dự án nhà trẻ hoàn thành tính đến năm 2016 mới chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu gửi trẻ thực tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ áp lực lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường. Trong tổng số 171.655 doanh nghiệp đang hoạt động tại thành phố, có tới 56,49% doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ (96.936 đơn vị) và chỉ có 37,81% doanh nghiệp hoạt động có lãi. Điều này khiến người sử dụng lao động có xu hướng cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật dành cho lao động nữ, bao gồm chi phí nghỉ 30 phút/ngày trong thời kỳ hành kinh, nghỉ 60 phút/ngày khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi, hoặc hỗ trợ chi phí gửi trẻ.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu quốc tế của ILO, quy định cấm sử dụng lao động nữ trong 38 công việc theo Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH dù nhằm mục đích bảo vệ chức năng sinh sản nhưng vô hình trung đã tước đi cơ hội việc làm có thu nhập cao của những phụ nữ không còn nhu cầu sinh con.

Về mặt trực quan học thuật, các phát hiện nghiên cứu có thể được thể hiện qua hệ thống bảng biểu so sánh chỉ số lao động qua đào tạo giữa nam và nữ qua từng năm, kết hợp đồ thị đường thể hiện tỷ lệ thất nghiệp (2,66%) và biểu đồ cột phản ánh sự chênh lệch cung - cầu lao động đối với nhóm lao động nữ trên 35 tuổi tại các khu công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách đối với lao động nữ, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Sửa đổi và chuẩn hóa các quy định của Bộ luật Lao động: Rà soát, cắt giảm danh mục 38 công việc cấm sử dụng lao động nữ tại Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH theo hướng linh hoạt dựa trên sự tự nguyện và điều kiện thực tế của người lao động; luật hóa chi tiết hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc và thiết lập cơ chế xử lý bảo vệ nạn nhân thay vì chỉ quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Mục tiêu hoàn thiện trước giai đoạn sửa đổi Bộ luật Lao động mới, do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì.
  2. Cải cách cơ chế ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định cơ chế khấu trừ tự động các khoản chi phí tăng thêm cho lao động nữ (đào tạo nghề dự phòng, xây dựng phòng vắt sữa, chi phí hỗ trợ nhà trẻ) vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận chính sách ưu đãi thuế tại Thành phố Hồ Chí Minh lên mức tối thiểu 30% trong vòng 3 năm, do Bộ Tài chính phối hợp Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.
  3. Mở rộng hạ tầng xã hội và hỗ trợ chăm sóc trẻ em tại các khu chế xuất - khu công nghiệp: Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành 22 dự án trường mầm non công lập đến năm 2020, triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ từ 50% đến 100% kinh phí trông trẻ ngoài giờ cho con công nhân theo Quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu giải quyết ít nhất 60% nhu cầu gửi trẻ cho hơn 40.000 con em công nhân, do Ban Quản lý Khu chế xuất và Công nghiệp (HEPZA) phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện.
  4. Tăng cường thanh tra chuyên ngành và thúc đẩy thỏa ước lao động tập thể: Nâng cao năng lực cho tổ chức Công đoàn cơ sở trong thương lượng tập thể nhằm đưa các điều khoản có lợi hơn cho lao động nữ vào thỏa ước; xử phạt nghiêm minh các doanh nghiệp vi phạm quy định về nợ bảo hiểm xã hội, ép tăng ca hoặc sa thải trái luật phụ nữ mang thai. Mục tiêu đạt 100% doanh nghiệp có từ 100 lao động nữ trở lên ký kết thỏa ước lao động tập thể có chương riêng về giới, do Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh triển khai định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu chuyên khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật: Cung cấp khung lý luận chuyên sâu về luật lao động, bình đẳng giới và phương pháp luận phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại đô thị đặc biệt.
  • Chuyên viên Pháp chế và Giám đốc Nhân sự (HR) tại các doanh nghiệp: Giúp nắm vững các tiêu chuẩn pháp lý bắt buộc khi tuyển dụng, quản lý thai sản, bố trí thời giờ làm việc - nghỉ ngơi và áp dụng đúng quy trình kỷ luật đối với lao động nữ nhằm phòng ngừa rủi ro tranh chấp.
  • Cán bộ Công đoàn các cấp và đại diện người lao động: Trang bị kỹ năng pháp lý, luận cứ thực tế để đàm phán xây dựng thỏa ước lao động tập thể tiến bộ, bảo vệ quyền lợi về tiền lương, an toàn lao động và chế độ bảo hiểm cho nữ đoàn viên.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội, HEPZA): Cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá chính sách, điều chỉnh hoạt động thanh tra và hoạch định các chương trình đào tạo nghề, an sinh xã hội phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của thành phố.

Câu hỏi thường gặp

Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 được hưởng những quyền lợi đặc thù nào về thời giờ làm việc?
Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 155 Bộ luật Lao động năm 2012, lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 7 được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc giảm 01 giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương. Người sử dụng lao động tuyệt đối không được bố trí làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa.

Doanh nghiệp cần đáp ứng điều kiện gì để được xác định là sử dụng nhiều lao động nữ?
Căn cứ Điều 3 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP, doanh nghiệp phải đáp ứng một trong ba tiêu chí: sử dụng từ 10 đến dưới 100 lao động nữ (nữ chiếm từ 50% tổng số lao động trở lên); sử dụng từ 100 đến dưới 1.000 lao động nữ (nữ chiếm từ 30% trở lên); hoặc sử dụng từ 1.000 lao động nữ trở lên.

Quy định cấm sa thải lao động nữ vì lý do kết hôn hoặc nuôi con nhỏ được áp dụng ra sao?
Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Lao động năm 2012 nghiêm cấm người sử dụng lao động sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động). Mọi thỏa thuận nội bộ trái với quy định này đều vô hiệu.

Tại sao việc thực thi chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp dùng nhiều lao động nữ lại gặp khó khăn?
Khảo sát tại 48 tỉnh thành cho thấy chỉ có 2 địa phương áp dụng được chính sách này. Nguyên nhân chính là do quy định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ giới hạn ở nhóm ngành sản xuất, xây dựng, vận tải, cùng với quy trình hồ sơ chứng minh các khoản chi tăng thêm quá phức tạp khiến doanh nghiệp e ngại rủi ro thanh tra thuế.

Lao động nữ nghỉ trong thời gian hành kinh và nuôi con nhỏ được quy định mức thời gian như thế nào?
Căn cứ khoản 5 Điều 155 Bộ luật Lao động năm 2012, lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ 30 phút mỗi ngày; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong giờ làm việc. Toàn bộ thời gian nghỉ này vẫn được tính vào giờ làm việc và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại hơn 172.979 doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ khoảng cách lớn giữa quy định pháp lý và khả năng thực thi thực tế.
  • Nhận diện các điểm nghẽn chính sách cốt lõi, đặc biệt là sự thiếu hụt hạ tầng nhà trẻ khu công nghiệp và sự bất cập trong cơ chế hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi luật, cải cách thủ tục thuế, mở rộng phúc lợi xã hội đến tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn và cơ quan thanh tra.
  • Các nhà quản lý chính sách, doanh nghiệp và các tổ chức đại diện người lao động cần nhanh chóng phối hợp thực hiện các giải pháp này nhằm kiến tạo môi trường lao động bình đẳng, văn minh và bền vững.