Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về thương lượng tập thể và pháp luật về thương lượng tập thê Chương 2: Thực trạng pháp luật về TLTT và thực tiễn thực hiện tại T ập đoàn Dệt May Việt Nam Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thương lượng tập thé tại Tập đoàn Dệt May Việt Nam. 10 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THƯƠNG LƯỢNG TAP THE VA PHAP LUAT VE THUONG LUONG TAP THE 1. Khai quát chung về thương lượng tập thể 1. Khái niệm thương lượng tập thể Thương lượng là thuật ngữ không mới và có nhiều cách tiếp cận, giải thích khác nhau.
Ở góc độ ngôn ngữ học, thương lượng được hiểu là “bàn bạc để đi đến một sự thỏa thuận giữa hai bên” [43, trang 942]; còn theo từ điển Luật học, “thương lượng” là việc các bên tự bàn bạc, thống nhất dé giải quyết tranh chấp [44] Nhu vậy, dù khác nhau về cách định nghĩa, nhưng “thương lượng” đều được hiểu chung, đó là sự bàn bạc của các bên (có thé là cá nhân hoặc một số cá nhân) dé cùng dat được sự thỏa thuận, thống nhất về một van dé mà các bên quan tâm mà pháp luật không cam. Từ nghĩa gốc của từ thương lượng, có thê định nghĩa “thương lượng tập thé” là sự trao đối, bàn bạc của hai hoặc nhiều bên dé đạt được lợi ích chung. Và khi đặt TLTT trong QHLD thì có thể hiểu đó là sự trao đổi, ban bac giữa NLD và NSDLD để đi tới sự thỏa thuận, thống nhất về lợi ích của mỗi bên. Cho đến nay, khái niệm TLTT đã được luật hóa trong các điều ước quốc tế và luật pháp quốc gia, cụ thé theo quan điểm của ILO thì TLTT là cuộc thương lượng giữa một bên là một, một nhóm NSDLD hoặc một hay nhiều tổ chức của NSDLĐ với một bên là một hay nhiều tổ chức của NLĐ, dé: (1) Quy định những điều kiện lao động và sử dụng lao động; (2) Giải quyết các môi quan hệ giữa NLD và NSDLĐ; (3) Giải quyết các mối quan hệ giữa những NSDLD hoặc các tô chức của họ với một hoặc nhiều tô chức của NLD [13, Điều 2].
Ở Việt Nam quy định về TLTT được được luật hóa trong BLLĐ đầu tiên của Việt Nam từ năm 1994, qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp 11 với sự phát triên của QHLĐ trong nền kinh tế thị trường, đến BLLĐ năm 2019, các quy định về TLTT đã cơ bản hoàn thiện. Cu thê, tại Điều 65 BLLĐ 2019 thuật ngữ thương lượng tập thé được hiểu là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều TCĐDNLĐ với một bên là một hoặc nhiều NSDLĐ hoặc tổ chức đại diện NSDLĐ nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng QHLD tiến bộ, hài hòa và ôn định”. Có thể thấy, định nghĩa TLTT trong BLLD 2019 đã bao hàm các vấn đề về bản chất, chủ thể, mục tiêu hàm chứa trong thuật ngữ TLTT và khá tương thích với quy định về TLTT trong Công ước 154 của ILO, là khung pháp lý để các bên trong QHLĐ tại doanh nghiệp áp dụng nhằm tiến hành cuộc thương lượng phù hợp với điều kiện và nhu cầu của mỗi bên. Vai trò và ý nghĩa của thương lượng tập thé TLTT đóng vai trò quan trọng trong QHLD giữa NSDLĐ va NLD, thé hiện ở các khía cạnh sau day: Một là, TLTT giúp các bên xác lập được điều kiện lao động tại nơi làm việc.
Điều kiện làm việc bao gồm các yêu tổ như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, quy tắc ứng xử; nhiệt độ, ánh sáng, hóa chất.Các yếu tố này đều ảnh hưởng đến quá trình lao động tạo ra năng suất, thu nhập của NLĐ theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Thông qua thương lượng, các bên căn cứ vào tình hình thực tiễn của doanh nghiệp và nhu cầu chính đáng của NLD dé thỏa thuận, cùng xác lập các điều kiện lao động tác động vao quá trình lao động theo hướng tích cực nhằm tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt, bảo vệ môi trường và sức khỏe cho NLD. Hai là, TUTT giúp cân bằng được lợi ích trong QHLĐ. QHLĐ về bản chất là quan hệ giữa NSDLD và NLD về mua bán sức lao động, theo đó NLD bán sức lao động dé nhận tiền công; còn NSDLD khai thác sức lao động của NLD vào quá trình sản xuất, kinh doanh dé tìm kiếm lợi nhuận.
Trong quan 12 hệ này, NSDLĐ có quyền kiểm tra, giám sát quá trình lao động của NLD. Mặc dù pháp luật quy định việc xây dựng quan hệ dựa trên nguyên tắc bình đăng, song sự bình dang chỉ có tính tương đối. Trên thực tế, NLD ở vi trí yếu thế hơn so với NSDLĐ. Tài sản của họ là sức lao động, trình độ kỹ năng nghề nghiệp; còn NSDLD là chủ thể có tiềm lực về kinh tế, tài chính; có khả năng quản lý và khai thác giá trị sức lao động của nhiều NLD.
Vì vậy, các bên cần thương lượng để đảm bảo lợi ích chung, thu hẹp khoảng cách lợi ích giữa NSDLD và NLD Ba là, TLTT góp phần giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Trong QHLD, quyên của chủ thé này là nghĩa vụ tương ứng của chủ thé kia. Quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ, mỗi bên có thể nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột. Vì vậy TLTT trên cơ sở sự thỏa thuận, đàm phán giữa NSDLD và NLD sẽ giúp giảm thiểu và giải quyết mâu thuẫn, bất đồng tại mỗi doanh nghiệp, tạo cơ sở dé xây dựng QHLD hài hòa, ồn định, tiến bộ.
Với những vai trò như phân tích ở trên, TLTT có ý nghĩa to lớn đối với các bên trong QHLĐ, cụ thê là: Với NLD, TLTT giúp ho có điều kiện làm việc tốt, dam bảo việc làm, thu nhập, được gia tăng các phúc lợi vật chất, tinh thần, được bảo vệ sức khỏe. Từ đó họ thêm yêu nghề, gắn bó lâu dai với doanh nghiệp. Với NSDLĐ, TLTT góp phần xây dựng QHLD hài hòa, ổn định; thúc day năng suất, chất lượng; khang định uy tín, vị thé, văn hóa của doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp giữ vững được nguồn lao động, tăng sự cạnh tranh, 6n định và phát triển bền vững. Ngoài ra, TLTT với vai trò là chìa khóa để giải quyết xung đột, mâu thuẫn tại nơi làm việc còn có ý nghĩa giảm tải gánh nặng trong việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động các cấp; các cơ quan giải quyết TCLĐ 13 1.
Phân loại thương lượng tập thể 1.1 Căn cứ vào cấp độ và phạm vi, TLTT được chia thành TLTT cấp doanh nghiệp, TLTT cấp ngành, TLTT cấp địa phương và TLTT cấp quốc gia. TLTT cấp doanh nghiệp: Đây là hình thức TLTT giữa một hoặc nhiều TCĐDNLĐ trong doanh nghiệp với NSDLĐ dé xác lập các điều kiện lao động trong phạm vi doanh nghiệp. TLTT cấp doanh nghiệp phô biến nhất, do việc TLTT được thực hiện trong phạm vi doanh nghiệp, các bên có sự hiểu biết lẫn nhau nên dễ đạt được những thỏa thuận chung khi TLTT. Ở một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, xuất phat từ các doanh nghiệp sản xuất theo công nghệ hiện đại có quy mô lớn, tính chuyên môn hóa cao, các bộ phận của doanh nghiệp tương đối độc lập và có những yêu cầu khác nhau về điều kiện lao động và sử dụng lao động nên có thể TLTT bộ phận doanh nghiệp [41, trang 250].
Ở Việt Nam, việc TLTT chủ yếu được thực hiện ở cấp độ doanh nghiệp. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp có các điều kiện lao động, sử dụng lao động tương đồng có thể TLTT nhóm doanh nghiệp. TLTT cấp ngành: Đây là hình thức TLTT được tiến hành giữa công đoàn ngành (đại diện cho NLD trong ngành) và đại diện NSDLD ở cấp ngành. Ở những quốc gia có nên kinh tế phát triển như Mỹ, Châu Âu, Nhật Ban, Han Quốc, hình thức TLTT này thường được áp dụng.
Kết quả của quá trình TLTT cấp ngành là bản TƯLĐTT ngành được ký kết, tạo ra khung pháp lý của ngành dé các áp dụng trong các doanh nghiệp trực thuộc. Hình thức này có lợi thé là tăng cường sự đoàn kết của NLD trong phạm vi toàn ngành, giảm chi phí thương lượng, các doanh nghiệp không phải trực tiếp đàm phán, thảo luận các các nội dung thương lượng do đó giảm thiểu xung đột giữa chủ thể là NSDLD và NLD. Tuy nhiên, TLTT cấp ngành lại có nhược điểm là thiếu linh hoạt, không thích ứng với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp. Nếu trong 14 toàn ngành, một số doanh nghiệp không đồng ý việc TLTT hoặc không tán thành với kết quả đạt được sau quá trình TLTT cấp ngành sẽ dẫn tới nhiều khó khăn trong việc triển khai thỏa ước tập thê ngành trong thực tế.
TLTT cấp địa phương với sự tham gia của các doanh nghiệp trong phạm vi địa phương. Hình thức này có thể bao gồm TLTT giữa một nhóm doanh nghiệp trong cùng một nganh tại địa phương; TLTT giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một địa phương. Hình thức TLTT này thường được thực hiện ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh tương đối ôn định, được tổ chức thành các khu kinh tế hoặc khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao như Đức, Áo, Pháp. Kết quả của TLTT cấp địa phương sẽ là những bản TULDTT cấp vùng, cấp địa phương được ký kết dé thống nhất chế độ lao động của các doanh nghiệp trong vùng, địa phương.
Vì vậy TULDTT loại nay có ưu điểm là hạn chế được các TCLĐ trong phạm vi của ca vùng, địa phương đó. Tuy nhiên TLTT được thực hiện ở phạm vi rộng, liên quan đến nhiều doanh nghiệp với điều kiện sản xuất kinh doanh, ngành nghề khác nhau nên việc đàm phán thường phức tạp, khó thành công. Ở Việt Nam cho đến thời điểm này pháp luật vẫn chưa có quy định cy thê về loại hình TLTT này. [41, trang 252] TLTT cấp quốc gia: Day là loại TLTT được tiễn hành giữa tổ chức dai diện NLĐ với tổ chức NSDLĐ cấp quốc gia mà sản phẩm của loại thương lượng nay sẽ cho ra đời bản TƯLĐTT quốc gia.
TLTT cấp quốc gia ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển như Dan Mạch, Thụy Điển, Na Uy. TƯLĐTT cấp quốc gia được ký kết sẽ thống nhất được chế độ lao động của các đơn vị sử dụng lao động ở phạm vi quốc gia và ngăn ngừa TCLĐ thê xảy ra ở phạm vi quốc gia, giúp cho QHLD hai hòa, ồn định và phát trién.