CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu trong nước Thuật ngữ chuỗi giá trị hay chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng được nhiều người biết đến trong những năm gần đây. Những nghiên cứu ở Việt Nam về chuỗi giá trị ngày càng nhiều lên, trong đó cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về chuỗi giá trị dét may, trong đó có thê ké đến: “Phân tích chuỗi giá trị và t6 chức quan hệ liên kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” của Đỗ Thị Đông, 2011. Nghiên cứu đã hệ thống hóa các lý thuyết có liên quan đến chuỗi giá trị từ đó ứng dụng vào đánh giá thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp xuất khẩu đệt may Việt Nam.
Tác giả đã đánh giá sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam là vô cùng ít, chủ yếu ở giai đoạn gia công sản xuất - công đoạn tạo ra giá trị gia tăng ít nhất. Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra những giải pháp giúp tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp may xuất khâu của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cơjờng liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước. Một nghiên cứu khác của Hà Văn Hội (2012) về “Chuỗi giá trị xuất khâu dét may của Việt Nam: Những bat lợi, khó khăn và biện pháp đối phó” cũng đã chỉ ra những điểm yếu của chuỗi giá trị xuất khâu dệt may Việt Nam. Tác giá phân tích những khó khăn từ công đoạn cung cấp nguyên liệu đầu vào, đến công đoạn sản xuất và công đoạn xuất khẩu bao gồm: sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nguồn cung trong nước không én định, biến động giá nhiên liệu, điện, cạnh tranh xuất khâu với các quốc gia khác, các quy định pháp lý đối với sản phẩm dệt may nhập khâu.
Từ những bất cập đã chỉ ra, tác giả đưa ra một số biện pháp nhằm gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị dét may xuất khâu Việt Nam. Lương Thị Linh (2012) với nghiên cứu “Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và khả năng tham gia của ngành dệt may Việt Nam” cũng đã đưa ra được những khái niệm cơ bản về chuỗi giá sự và sự can thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dét may 14 toàn cầu với các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thông qua phân tích thực trạng tham gia chuỗi giá trị đệt may toàn cầu của Việt Nam tác giả đã đưa ra những nguyên nhân ngành dệt may Việt Nam tham gia chưa hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu như thiết bị công nghệ lạc hậu, nguyên vật liệu kém chat lượng dẫn đến phải nhập khâu nhiều, nguồn nhân công dồi dào nhưng trình độ chưa cao,. Từ đó nghiên cứu đã có những định hướng và các giải pháp thúc đây Việt Nam tham gia chuỗi giá trị đệt may toàn cầu hiệu quả hơn.
Ngô Minh Duong (2017) đã có nghiên cứu về van dé tương tự khi phân tích “Những rào cản đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu”. Với những lý thuyết về chuỗi giá trị dét may toàn cau tác giả đã định vị ngành dét may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu cùng với những rao cản khi tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam từ khâu sản xuất nguyên phụ liệu với nguồn cung chủ yếu là nhập khẩu; khâu sản xuất và xuất khâu chủ đạo theo phương thức CMT, FOB chưa mang lại giá trị gia tăng cao. Tác giả khang định hạn chế lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là sự phát triển không đồng đều ở các công đoạn trong toàn chuỗi giá trị. Hiệp hội Bông sợi Việt Nam (2019) cũng có đánh giá về “Thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam”.
Nghiên cứu chỉ ra bức tranh dét may toàn cầu cũng như toàn cảnh dét may Việt Nam và đánh giá thực trạng tham gia chuỗi giá trị đệt may toàn cầu của Việt Nam. Bài viết còn chỉ ra các vấn đề của dệt may Việt Nam và hệ quả của nó như nút thắt cô chai tại khâu sản xuất vải, thiếu hoạch định vùng miền cho phát triển và thiếu tầm nhìn dài hạn trong hoạch định chiến lược. Một nghiên cứu gần đây năm 2020 của Trần Ngọc Mai và cộng sự là “Nâng cao vị thé thương mại quốc tế của ngành dét may Việt Nam trong chuỗi giá tri toàn cầu: Hướng tiếp cận từ lợi thé so sánh bộc lộ RCA”. Băng phương pháp tinh 15 toán các chỉ số lợi thế so sánh RCA, nhóm tác giả đã tìm ra 10/14 sản phâm (năm 2018) trong chuỗi giá trị ngành dét may Việt Nam có chỉ số RCA>1 (khi chỉ số càng lớn thì thị phần xuất khâu càng lớn).
Kết quả chỉ ra Việt Nam có lợi thế so sánh lớn nhất đối hai loại mặt hàng là quần áo và các hàng phụ trợ (bao gồm cả đã và chưa dệt kim hay móc), phản ánh thực tế là Việt Nam đang chủ yếu thực hiện công đoạn cuối của sản phẩm dệt may (cắt may hoặc gia công). Nghiên cứu nước ngoài Vấn đề chuỗi gia trị dét may luôn là điểm nóng được các nhà kinh tế học không chỉ trong mà ngoài nước cũng rất quan tâm. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 gây ra nhiều biến động thì vẫn đề này càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Liên quan đến chuỗi giá trị, rất nhiều nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của dịch bệnh đến chuỗi giá tri cũng như chuỗi giá trị dét may.
Bài viết của Adnan Seric và cộng sự, “Risk, resilience and recalibration in global value chains” đã chỉ ra những rủi ro mà chuỗi giá trị toàn cầu gặp phải trong bối cảnh covid-19. Sự gián đoạn chuỗi cung ứng do covid-19 gây ra đã làm ton thương nghiêm trọng đến chuỗi giá trị toàn cầu. Bài viết đi sâu phân tích từng lĩnh vực sản xuắt, thương mại, vận tải, tài chính dưới ảnh hưởng của dịch bệnh đã có những gián đoạn lớn, gây ra nhiều thiệt hại cho chuỗi giá trị toàn cầu.N (2020) với nghiên cứu “COVID-19’s impacts on global value chains, as seen in the apparel industry” đã phân tích và mô ta đặc điểm của sự gián đoạn đối với chuỗi giá trị hàng may mặc toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra. Kết quả chỉ ra chuỗi giá trị hàng may mặc toàn cầu đã bị gián đoạn nghiêm trọng do đại dịch, do ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh đến sức khỏe của công nhân trong các nhà máy, giảm sản lượng nguyên liệu - vải, chỉ, v.
- được sử dụng để sản xuất quần áo và giảm nhu cầu về hàng may mặc ở các quốc gia có mức thu nhập cao. 16 “Apparel regional value chains and Covid-19: insights from Eswatini” của Giovanni va cộng sự (2020) là một trong những nghiên cứu mối liên quan giữa dịch bệnh Covid-19 và chuỗi giá trị dệt may ở Eswatini. Nhóm tác giả tổng quan nền công nghiệp dệt may của Eswatini trong những năm trước khi dich bệnh bùng phát. Từ đó, so sánh đối chiếu với thực trạng năm 2020 dé thấy những tác động mà Covid-19 đã gây ra.
Thiệt hại được so sánh cho thấy nhà cung cấp gián tiếp bị ảnh hưởng nhiều hơn so với nhà cung cấp trực tiếp. Nghiên cứu “Different exposure, similar reality? The pandemic and the ready-made garment sector in Bangladesh and Vietnam” cua Sumena Sultana va cộng sự (2020) đã có những đánh giá về tác động của dich bệnh Covid-19 đến hàng may mặc sẵn ở Bangladesh và Việt Nam. Những tác động được chỉ ra ở khía cạnh tiêu cực bao gồm nguồn nguyên liệu bị đứt quãng, đơn hàng trì trệ, bị hoãn, bị hủy và sức khỏe nhân công ảnh hưởng đến sản xuất. Khoảng trống nghiên cứu Qua các nghiên cứu trước, ta thấy chuỗi giá trị xuất khẩu dét may nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Với các nghiên cứu trong nước, các tác giả chủ yếu nghiên cứu về thực trạng, khó khăn của chuỗi giá trị đệt may trong chuỗi giá trị toàn cầu, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thức công bồ về chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may dưới tác động của dịch bệnh Covid-19. Các nghiên cứu nước ngoài đã có phân tích về van dé này tuy nhiên đều tập trung ở chuỗi giá trị dét may toàn cầu hoặc ở một số quốc gia khác. Nhận thay điểm nay, tác giả đã bắt tay vào nghiên cứu dé có cái nhìn tổng quát, toàn điện về chuỗi gia tri xuat khau dét may Việt Nam dưới anh hưởng của Covid- 19 sẽ có những tác động biến đổi gì. Dự kiến đóng góp của đề tài Bài nghiên cứu sẽ tiếp thu và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, sử dụng phương pháp định tính phân tích đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 17 đến chuỗi giá tri xuất khẩu dệt may Việt Nam, cũng như những cơ hội và cả thách thức mà dịch bệnh mang lại.
Từ đó đưa ra hàm ý chính sách cho Chính phủ và giải pháp cho các doanh nghiệp dé khắc phục những khó khăn còn tôn tại và phát huy những cơ hội trong chuỗi giá trị xuất khâu hàng dệt may của Việt Nam, thúc đây ngành dệt may tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu trong trạng thái “bình thường mới” sắp tới. 18 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CƠ SỞ THUC TIEN VE CHUOI GIA TRI XUẤT KHẨU DET MAY 2. Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may 2. Chuỗi giá trị Khái niệm đầu tiên về chuỗi được nhắc đến trong lý thuyết về phương pháp chuỗi (filière).
Trong lý thuyết này, chuỗi là khái niệm được dùng dé mô tả các hoạt động có liên quan đến quá trình sản phẩm (dịch vụ) cuối cùng. Dựa trên khái niệm này, khái niệm về chuỗi gia tri cũng dan được ra đời. Người đầu tiên đưa ra khái niệm chuỗi giá tri là Michael Porter. Theo Michael Porter (1985), chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động để đưa đến sản phẩm cuối cùng.
Sản phẩm đi qua các hoạt động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá tri gọi là gia tri gia tăng. Do đó, cach để tạo ra và nâng cao giá trị gia tăng của một sản phẩm và một ngành hàng là cần nâng cao giá trị gia tăng ở từng khâu đoạn của chuỗi. Sau đó, những khái niệm về chuỗi giá trị khác cũng lần lượt xuất hiện.