Tổng quan nghiên cứu
Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đóng vai trò chiến lược trong chính sách giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, chỉ tính riêng trong giai đoạn 10 năm từ năm 2007 đến năm 2017, các doanh nghiệp dịch vụ đã đưa được 1.026.986 người lao động đi làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Dòng kiều hối do lực lượng lao động này chuyển về nước từ năm 2013 đến năm 2017 đạt bình quân khoảng 2 tỷ USD mỗi năm, mang lại nguồn ngoại tệ lớn và cải thiện rõ rệt đời sống kinh tế cho hàng trăm nghìn hộ gia đình.
Tuy nhiên, sau một thập kỷ thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, thực tiễn áp dụng pháp luật đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Các quy định về điều kiện gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp dịch vụ bộc lộ nhiều kẽ hở pháp lý, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng về số lượng nhưng không đồng đều về chất lượng quản trị. Tình trạng doanh nghiệp lách luật về vốn pháp định 5 tỷ đồng, vi phạm nghĩa vụ duy trì tiền ký quỹ 1 tỷ đồng, hay hiện tượng mượn danh nghĩa người điều hành có đủ điều kiện để xin cấp giấy phép đã gây bất ổn định cho thị trường xuất khẩu lao động. Số lượng doanh nghiệp được cấp phép tăng mạnh từ 14 đơn vị năm 1992 lên tới 304 đơn vị tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2017, tạo ra áp lực quản lý rất lớn cho các cơ quan nhà nước.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2007 - 2017. Trên cơ sở đối chiếu giữa chuẩn mực pháp lý và thực tiễn thực thi tại 304 doanh nghiệp, công trình đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết tự do kinh doanh có điều kiện trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và học thuyết về quyền an sinh, bảo vệ lao động di cư theo các chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Đầu tư năm 2014, quyền tự do kinh doanh của công dân và doanh nghiệp được tôn trọng tối đa, nhưng đối với ngành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người và trật tự an toàn xã hội, Nhà nước bắt buộc phải áp dụng cơ chế quản lý bằng điều kiện kinh doanh nghiêm ngặt.
Bốn khái niệm pháp lý cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:
- Điều kiện kinh doanh dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Tập hợp các yêu cầu bắt buộc về vốn, ký quỹ, nhân sự, cơ sở vật chất và đề án hoạt động mà doanh nghiệp phải đáp ứng và duy trì liên tục trong suốt quá trình hoạt động.
- Vốn pháp định: Mức vốn tối thiểu 5 tỷ đồng mà doanh nghiệp phải sở hữu theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm năng lực tài chính giải quyết rủi ro phát sinh.
- Ký quỹ ngân hàng thương mại: Khoản tiền bảo đảm 1 tỷ đồng ký thác bắt buộc tại ngân hàng thương mại để xử lý các nghĩa vụ tài chính khẩn cấp cho người lao động.
- Hợp đồng cung ứng lao động: Văn bản thỏa thuận pháp lý giữa doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam và đối tác tiếp nhận lao động nước ngoài, xác lập quyền, nghĩa vụ và chế độ làm việc.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đáng tin cậy, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 370/HĐBT ngày 09 tháng 11 năm 1991, Chỉ thị 41/CT-TW ngày 22 tháng 9 năm 1998, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, cùng các báo cáo chuyên đề của Cục Quản lý lao động ngoài nước.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn thể (census sampling) đối với toàn bộ 304 doanh nghiệp dịch vụ đã được cấp giấy phép hoạt động tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2017 tại Việt Nam, kết hợp khảo sát chuỗi số liệu di biến động lao động từ năm 1980 đến năm 2017.
- Phương pháp phân tích: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng mác-xít, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả và so sánh luật học lịch sử.
- Lý do lựa chọn: Việc kết hợp phân tích câu chữ pháp luật với dữ liệu thực chứng của 304 doanh nghiệp giúp bóc tách chính xác các kẽ hở lập pháp, làm rõ khoảng cách giữa quy định lý thuyết và hành vi lách luật trong thực tế kinh doanh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát và phân tích thực trạng pháp luật đã chỉ ra ba phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, tốc độ gia tăng quy mô thị trường diễn ra mạnh mẽ nhưng cơ cấu chủ thể có sự dịch chuyển triệt để. Từ năm 1980 đến năm 1990, cả nước chỉ có 244.186 lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua hình thức hợp tác phi lợi nhuận giữa các cơ quan nhà nước. Giai đoạn 2007 - 2017, số lượng lao động xuất cảnh đạt 1.026.986 người, tăng trưởng gần 98% từ mức 68.048 người năm 2007 lên 134.751 người năm 2017. Về chủ thể kinh doanh, 100% trong số 304 doanh nghiệp được cấp phép là doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; chỉ duy nhất có 1 tổ chức sự nghiệp công lập tham gia là Trung tâm Lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Thứ hai, điều kiện vốn pháp định và ký quỹ ngân hàng bộc lộ nhiều kẽ hở quản lý. Mức vốn pháp định 5 tỷ đồng quy định cho 100% vốn trong nước chưa tạo ra rào cản tài chính đủ vững chắc. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp mới thành lập đã sử dụng thủ thuật vay vốn ngắn hạn từ ngân hàng thương mại để xin giấy xác nhận đủ vốn tại thời điểm nộp hồ sơ, sau đó nhanh chóng hoàn trả khoản vay sau khi nhận giấy phép. Đối với khoản tiền ký quỹ 1 tỷ đồng, một số doanh nghiệp đã tự ý rút tiền hoặc chuyển sang tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn để trục lợi chênh lệch lãi suất, làm vô hiệu hóa công cụ bảo đảm quyền lợi người lao động khi xảy ra tranh chấp.
Thứ ba, tiêu chuẩn về tổ chức bộ máy và nhân sự lãnh đạo chưa theo kịp yêu cầu hội nhập. Mặc dù có hơn 80% cán bộ nghiệp vụ đạt trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên theo quy định tối thiểu 9 cán bộ chuyên trách, nhưng trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ giám đốc điều hành còn rất hạn chế. Pháp luật quy định lãnh đạo điều hành phải có bằng đại học và 3 năm kinh nghiệm trong ngành, song không quy định đây phải là người đại diện theo pháp luật. Kẽ hở này dẫn đến hiện tượng thuê các cá nhân đủ tiêu chuẩn đứng tên làm phó giám đốc phụ trách để hợp thức hóa hồ sơ cấp phép, sau đó quyền điều hành thực tế lại thuộc về những người không đủ điều kiện chuyên môn.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ việc các tiêu chuẩn phê duyệt Đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hiện nay mang nặng tính định tính, phụ thuộc vào nhận định chủ quan của cán bộ thụ lý hồ sơ. Về công tác thẩm định hợp đồng cung ứng lao động, quy trình kiểm duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc của cơ quan quản lý đã vận hành tương đối hiệu quả, với tỷ lệ hợp đồng bị từ chối hoặc yêu cầu đàm phán lại duy trì ở mức chỉ khoảng 1%.
Các dữ liệu nghiên cứu về sự chuyển dịch của thị trường lao động có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ kết hợp (combo chart) thể hiện tương quan giữa mức tăng trưởng số lượng lao động qua từng năm (từ 68.048 người năm 2007 lên 134.751 người năm 2017) và sự gia tăng số lượng doanh nghiệp dịch vụ (từ 14 đơn vị năm 1992 lên 304 đơn vị năm 2017). Đồng thời, cơ cấu nhân sự chuyên trách có thể được biểu diễn qua bảng ma trận phân bổ 9 chức danh bắt buộc và tỷ lệ trình độ đại học tại các phòng nghiệp vụ thị trường, quản lý lao động và đào tạo.
So với các nghiên cứu kinh tế học trước đây chỉ tập trung lượng hóa hiệu quả tài chính và số lượng kiều hối, công trình này đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của tình trạng người lao động bỏ trốn hoặc bị lừa đảo xuất phát từ sự lỏng lẻo trong khung pháp lý điều chỉnh điều kiện kinh doanh. Việc thiếu cơ chế hậu kiểm tài chính định kỳ khiến quy định vốn 5 tỷ đồng và ký quỹ 1 tỷ đồng mất đi giá trị bảo đảm an toàn thực tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và lành mạnh hóa thị trường dịch vụ xuất khẩu lao động, bốn giải pháp trọng tâm cần được triển khai:
Thứ nhất, nâng cao tiêu chuẩn năng lực tài chính và thiết lập cơ chế phong tỏa tự động. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi quy định, nâng mức vốn pháp định tối thiểu từ 5 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng và tiền ký quỹ từ 1 tỷ đồng lên 2 tỷ đồng. Thiết lập cơ chế giám sát tài khoản ký quỹ trực tuyến liên thông giữa ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý nhà nước, tự động phát cảnh báo khi số dư biến động dưới mức quy định, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2019 - 2021.
Thứ hai, chuẩn hóa điều kiện đối với người đại diện theo pháp luật và đội ngũ nhân sự. Quốc hội và Chính phủ cần sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo hướng quy định bắt buộc: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải trực tiếp là người có trình độ từ đại học trở lên, có ít nhất 3 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực di cư lao động và có chứng chỉ ngoại ngữ tối thiểu bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam. Xóa bỏ hoàn toàn cơ chế cho phép thuê mượn nhân sự điều hành đứng tên hồ sơ, thực hiện từ năm 2020.
Thứ ba, lượng hóa bộ tiêu chí thẩm định Đề án hoạt động dịch vụ. Cơ quan có thẩm quyền ban hành thang đo định lượng 100 điểm đánh giá cơ sở vật chất, giáo trình đào tạo định hướng và tỷ lệ nhân sự đạt chuẩn (yêu cầu tối thiểu 90% nhân sự chuyên trách có chứng chỉ nghiệp vụ phù hợp). Mọi hồ sơ đề nghị cấp phép phải đạt từ 80 điểm trở lên mới đủ điều kiện xem xét, áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước từ năm 2020.
Thứ tư, siết chặt quản lý mạng lưới chi nhánh và trung tâm đào tạo vệ tinh. Pháp luật cần quy định nghiêm cấm việc ủy quyền cho các chi nhánh hoặc trung tâm đào tạo trực thuộc thực hiện việc thu tiền dịch vụ, tiền ký quỹ và ký hợp đồng cung ứng lao động. Giới hạn tối đa không quá 3 chi nhánh tại 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau và duy trì tần suất thanh tra, kiểm tra 100% chi nhánh định kỳ mỗi năm một lần do Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách: Cục Quản lý lao động ngoài nước và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có thể sử dụng kết quả khảo sát 304 doanh nghiệp làm cơ sở thực tiễn để xây dựng dự thảo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sửa đổi.
- Ban lãnh đạo và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp dịch vụ: Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sử dụng tài liệu để rà soát quy trình quản trị nội bộ, bảo đảm tuân thủ điều kiện về 9 vị trí nhân sự chuyên trách, quản lý hợp đồng cung ứng và vận hành tối đa 3 chi nhánh đúng pháp luật.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế: Tài liệu học thuật cung cấp góc nhìn chuyên sâu về lý luận điều kiện kinh doanh, phương pháp tiếp cận phân tích quy phạm và các tranh chấp pháp lý đặc thù trong quan hệ lao động di cư quốc tế.
- Hiệp hội Xuất khẩu Lao động Việt Nam (VAMAS) và các tổ chức quốc tế: Khảo sát toàn cảnh thực trạng thị trường giai đoạn 2007 - 2017 để xây dựng Bộ quy tắc ứng xử (CoC-VN) và tham vấn hoàn thiện chính sách bảo vệ quyền lợi người lao động di cư.
Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được cấp phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài không? Theo quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Nhà nước chỉ cấp giấy phép cho doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam. Quy định này nhằm bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất và bảo vệ quyền lợi công dân trong lĩnh vực có tính nhạy cảm chính trị, xã hội cao.
Mức vốn pháp định và tiền ký quỹ bắt buộc đối với doanh nghiệp dịch vụ hiện nay là bao nhiêu? Doanh nghiệp dịch vụ phải duy trì mức vốn pháp định không thấp hơn 5 tỷ đồng trong suốt quá trình hoạt động. Đồng thời, doanh nghiệp phải nộp khoản tiền ký quỹ bắt buộc là 1 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại nơi đặt trụ sở chính nhằm bảo đảm giải quyết các rủi ro tài chính phát sinh cho người lao động.
Bộ máy chuyên trách của doanh nghiệp dịch vụ phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu nào? Theo Quyết định số 19/2007/QĐ-BLĐTBXH, bộ máy hoạt động của doanh nghiệp phải có tối thiểu 9 cán bộ chuyên trách có trình độ từ cao đẳng trở lên tại các bộ phận thị trường, quản lý lao động, tài chính và đào tạo. Ngoài ra, bộ phận bồi dưỡng kiến thức cần thiết phải có ít nhất 3 cán bộ quản lý có kinh nghiệm chuyên sâu.
Doanh nghiệp dịch vụ được phép mở tối đa bao nhiêu chi nhánh hoạt động đưa người lao động đi nước ngoài? Pháp luật quy định mỗi doanh nghiệp dịch vụ chỉ được giao nhiệm vụ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho không quá 3 chi nhánh đặt tại 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau. Các chi nhánh này không được phép ký kết hợp đồng cung ứng hay trực tiếp thu các khoản phí ngoài phân cấp.
Thời hạn cơ quan quản lý nhà nước thẩm định và trả lời việc đăng ký hợp đồng cung ứng lao động là bao lâu? Theo Điều 18 của Luật năm 2006, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ từ doanh nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc không chấp thuận. Trong thực tế, có khoảng 1% hợp đồng bị từ chối do không bảo đảm điều kiện pháp lý.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đánh giá thực chứng toàn bộ 304 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong giai đoạn 2007 - 2017, phản ánh mức tăng trưởng lao động xuất cảnh từ 68.048 người lên 134.751 người mỗi năm.
- Nhận diện chính xác các kẽ hở pháp lý về vốn pháp định 5 tỷ đồng, tiền ký quỹ 1 tỷ đồng và tình trạng mượn danh nghĩa người điều hành doanh nghiệp.
- Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về nâng mức vốn lên 10 tỷ đồng, ký quỹ 2 tỷ đồng, lượng hóa tiêu chuẩn đề án và siết chặt kiểm soát mạng lưới chi nhánh.
- Đề xuất lộ trình hoàn thiện thể chế giai đoạn 2019 - 2021 nhằm tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ tối đa quyền lợi người lao động Việt Nam ở nước ngoài.
Các nhà quản lý, cơ quan lập pháp và cộng đồng doanh nghiệp hãy chủ động tham khảo công trình nghiên cứu này để áp dụng vào thực tiễn quản trị và đóng góp tích cực cho tiến trình sửa đổi toàn diện Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.