Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1. ĐẶC TRƯNG CỦA SỨC LAO ĐỘNG VỚI TƯ CÁCH LÀ HÀNG HÓA TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Thị trường lao động là một bộ phận của nền kinh tế thị trường. Cũng giống như bất cứ thị trường nào, các yếu tố cấu thành thị trường lao động bao gồm: Người mua - người bán - hàng hóa. Hàng hóa được mang ra trao đổi trên thị trường lao động chính là sức lao động.
Xét về mặt lịch sử, việc thừa nhận sức lao động là hàng hóa đã có từ hàng tram năm nay, song trong một thời gian rất dài người ta coi sức lao động tương tự như tất cả các hàng hóa thông thường khác và trao đổi về nó cũng giống như bất cứ một thứ hàng hóa nào mang tính tài sản trong thị trường. Chang hạn, ở Pháp trước nam 1973 hình thức pháp lý để mua bán sức lao động được dẫn chiếu đến hai điều luật của Bộ luật Dân sự năm 1804: khoản 1, điều 1779 - hợp đồng thuê dich vụ và điều 1780 - hợp đồng thuê nhân công. Từ nam 1973, với quan niệm coi sức lao động là hàng hóa đặc biệt, theo nghĩa "sức lao động không chỉ thuần túy mang tính tài sản mà còn mang ý nghĩa xã hột” [63, tr. 2,3] nước Pháp đã ban hành Bộ luật Lao động năm 1973 để điều chỉnh việc mua bán sức lao động (quan hệ lao động) trong thị trường lao động và từ năm 1973 trở đi người ta không dẫn chiếu đến hai điều luật trên nữa.
Hệ thống pháp luật điều chính quan hệ lao động của Anh, Mỹ cũng tiếp cận với quan nệm tương tự. Tuy nhiên, cũng có những nước không đặt ra việc nghiên cứu vấn đề này - chẳng hạn ở Đức người ta không quan tâm tranh luận về việc sức lao động có phải là hàng hóa hay không nhưng vẫn thừa nhận sự tồn tại của thị trường lao động. Ở nước ta, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sức lao động được coi là một giá trị xã hội và tinh thần không thuộc phạm trù trao đổi. Tuy nhiên, kể từ khi thừa nhận nền kinh tế thị trường, trong đó có thị trường lao động thì sức lao động chính thức được coi là hàng hóa.
Đồng thời, cũng như hầu hết các hệ thống pháp luật thị trường, chúng ta cũng coi sức lao động - bên cạnh những thuộc tính như bất cứ một loại hàng hóa nào, nó còn là một loại hàng hóa đặc biệt. Và chính sự đặc biệt của hàng hóa sức lao động dẫn đến yêu cầu phải có một quy chế pháp lý có tính đặc thù để điều chỉnh loại quan hệ mua bán này. Sự đặc biệt của hàng hóa sức lao động thể hiện ở các khía cạnh sau đây: - Thứ nhất: Hàng hóa sức lao động luôn tồn tại gắn liền với cơ thể NLD (người bán). Chính vì vậy, đây là thứ hàng hóa mà người ta không thé nhìn thấy, đo, đếm được như những loại hàng hóa thông thường.
Hay nói cách khác, đây là thứ hàng hóa mà người ta không thể định tính hoặc định lượng nó được. Cũng chính vì vậy, việc xác định giá trị đích thực của nó (chi phí giáo dục, chi phí khôi phục sức lao động.) là rất khó khăn. Tuy nhiên, cần chú ý, sức lao động nằm trong con người nhưng nó không đồng nhất với con người xét về nhiều mặt nhân cách, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, ý thức. và trên thị trường, khi NLD (người bán) tham gia quan hệ lao động thì cát họ mang trao đổi đó là sức lao động được chuyển tải thông qua quá trình lao động với sự tiêu hao về thời gian, trí tuệ, cơ bắp.
tức họ bán một thứ hàng hóa trừu tượng và do đó, người mua (NSDLĐ) cũng được sở hữu một loại hàng hóa trừu tượng tức sở hữu một quá trình lao động. Vì vậy, quá trình mua bán này thường diễn ra trong một thời gian, có thể rất dài (hàng chục năm) nhưng không bao giờ NLĐ bị bán bản thân mình một cách vĩnh viễn như kiểu quan hệ trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ trước đây (chủ nô bán nô lệ). Chính vì đặc điểm này, nên khi tham gia quan hệ lao động, pháp luật lưu ý các chủ thể - đặc biệt là NSDLĐ - phải chú ý mặt nhân cách của hàng hóa sức lao động trong quá trình lao động. - Thứ hai: Sức lao động là một loại hàng hóa mà khi sử dụng nó sáng tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của chính bản thân nó.
Đây là đặc điểm rất đặc trưng của hàng hóa sức lao động. Giá trị hàng hóa sức lao động trên thị trường được biểu hiện thông qua tiền lương, khi người mua sử dụng sức lao động (kết hợp với các yếu tố khác được gọi là đầu vào của quá trình sản xuất), tạo ra được sản phẩm. Sau khi bán sản phẩm, trừ đi các chi phí còn lại một khoản dư - đó là lợi nhuận. Phần lợi nhuận này (hay giá trị sáng tạo thêm) rõ ràng là do sức lao động sáng tạo ra bởi công cụ lao động và đối tượng lao động không thể tự liên kết, vận động.
Như vậy, sức lao động là yếu tố chi phí của quá trình sản xuất, đồng thời cũng là yếu tố mang lại lợi ích cho quá trình đó. Chính từ đặc điểm này của hàng hóa sức lao động mà trong quá trình sử dụng dễ dẫn đến sự bóc lột, bất công, lạm dụng. Vì vậy, ở đây sự điều chỉnh của pháp luật lao động phải đạt được hai yêu cầu - một mặt, đảm bảo lợi ích của NSDLĐ thông qua sự gia tăng không ngừng phần giá trị sáng tạo thêm (tức năng suất lao động), mặt khác, phải kiểm soát và hạn chế đến mức thấp nhất sự đối xử không công bằng, bóc lột thậm tệ. (như tăng vô hạn độ giờ làm việc, cúp lương, điều kiện lao động không đảm bảo.) của NSDLĐ đối với NLD trong quá trình lao động.
- Thứ ba: Sức lao động với tư cách là hàng hóa, khi quá trình trao đổi được thực hiện nó tạo lập nên mối quan hệ có tính cá nhân giữa NLD va NSDLD. Tuy nhiên, tương quan cá nhân này chịu sự chi phối, ảnh hưởng rất lớn của tập thể lao động bởi sự liên kết giữa những NLD trong cộng đồng của họ dường như là một sự liên kết có tính tất yếu khách quan nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thực tế cho thấy đây là "vũ khí” quan trọng nhất mà những NLD với tư cách là kẻ yếu trong quan hệ có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, quá trình mua bán và sử dụng sức lao động còn mang tính xã hội rất sâu sắc. Thực tiễn cho thấy, trong rất nhiều trường hợp mâu thuẫn, xung đột trong quá trình sử dụng sức lao động không chỉ liên quan đến bản thân NLD mà còn ảnh hưởng đến gia đình họ, thậm chí còn tác động lớn đến sự ổn định và trật tự xã hội.
Đó là những vấn đề như: thất nghiệp, đình 10 công. Nhu vậy, mua bán trao đổi sức lao động về mat ban chat là quan hệ có tính cá nhân nhưng đồng thời lại mang tính tập thể, tính xã hội và nhân văn sâu sac. Do đó, ở một khía cạnh nào đó có thể nói rằng quan hệ mua bán sức lao động là sự tổng hòa của các quan hệ xã hội. Vì vậy, sự điều chỉnh của pháp luật một mặt đảm bảo những yêu cầu trực tiếp trong quan hệ, mặt khác còn phải phúc đáp những đòi hỏi dường như nằm bên ngoài, không liên quan trực tiếp nhưng lại có tính khách quan của quan hệ trao đổi, mua bán sức lao động.
- Thứ tu: Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động đều có giá trị và giá trị sử dụng. Song việc xác định các giá trị này cũng có những khía cạnh đặc thù nhất định. Trước hết, nói về giá trị sức lao động. Người ta đo giá trị ấy bằng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra sức lao động đó.
Để sản xuất sức lao động, trước hết phải tiêu dùng một lượng của cải vật chất nhất định nhằm san sinh và nuôi dưỡng NLD mà cụ thể là chi phí để tạo ra năng lực lao động.Mác coi đây là chi phí để sản xuất ra sức lao động mới, chi phí duy trì vĩnh viễn sức lao động trên thị trường (tái sản xuất sức lao động), "những người sở hữu sức lao động đều có thể chết đi. Muốn luôn luôn có những NLD trên thị trường như sự chuyển hóa không ngừng của tư bản, thi phải làm cho họ sống vĩnh viễn như mỗi cá nhân sống vĩnh viễn bằng cách sinh con đẻ cái” [6, tr. Trong quá trình lao động, NLD phải tiêu hao trí tuệ, sức lực. Để duy trì, khôi phục sức lao động đã hao phi, NLD phải được ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý và như vậy phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết.
Sức lao động là năng lực hoạt động của con người, bao gồm cả thể lực và trí lực. Vì vậy, sản xuất sức lao động không chỉ khôi phục lại sức lao động đã hao phí về mặt thể lực mà cần tạo cho con người có khả năng hiểu biết nhất định cả về văn hóa và chuyên môn.Mác viết: "Để cho sức lao động phát triển theo hướng nhất định phải có sự giáo dục nào đó, mà chính sự giáo dục này lại tốn một lượng hàng hóa ngang giá” [6, tr. 1] Nhu vậy, giá tri sức lao động bao gồm: os. Giá trị của những chi phí để nuôi dưỡng con Hgười trước và sau tuÔi có kha năng lao động.
Giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để bà đắp lại sức lao đóng đã hao phí trong quá trình lao động. Giá trị của những chỉ phí cần thiết cho giáo dục nhằm tích lity kha năng chuyên môn, kiến thức xã hội. Giá trị sức lao động không phải là một yếu tố cố định, nó có thể thay đổi, khác nhau giữa các khu vực, các vùng tùy từng giai đoạn phát triển nhất định. Tuy vậy, trong mỗi thời kỳ nhất định, tại một thị trường lao động cụ thể, giá trị sức lao động có thể xác định được và tương đối ổn định.
Trong kinh tế thị trường, giá trị sức lao động có thể dao động quanh giá trị của nó tùy thuộc vào quan hệ cung cầu sức lao động. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ thể hiện rõ trong quá trình NSDLĐ (người mua) sử dụng sức lao động của NLĐ (người bán).