Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động và trách nhiệm về kỷ luật lao động. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về kỷ luật lao động, trách nhiệm kỷ luật lao động và thực tiễn thực hiện. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động ở Việt Nam. 6 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm, vai trò kỷ luật lao động 1.1 Khái niệm kỷ luật lao động Quá trình lao động của tập thể luôn đòi hỏi người lao động phải tuân theo một trật tự, nề nếp nhất định để hướng hoạt động của từng cá nhân theo kế hoạch chung nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc.
Nề nếp, trật tự mà chúng ta đang nói tới chính là sự biểu hiện của “kỷ luật lao động”. Do đó, kỷ luật lao động trở thành yếu tố khách quan và tất yếu đối với mọi đơn vị sản xuất, kinh doanh nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà trình độ phân công, tổ chức lao động trong xã hội ngày càng cao, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để tồn tại ngày càng lớn. Lê – nin từng nói: “Tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa thì dựa vào và ngày càng dựa vào kỷ luật tự nguyện, tự giác của chính ngay những người lao động” [14]. Câu nói này của Lê – nin đã thể hiện rõ tầm quan trọng đặc biệt của kỷ luật lao động đối với sự phát triển của các quốc gia trong công cuộc xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.
Để hiểu được thế nào là kỷ luật lao động, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu kỷ luật là gì? Theo Từ điển tiếng Việt [25] thì khái niệm kỷ luật có hai nghĩa: + Nghĩa thứ nhất: “Kỷ luật là tổng thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để bảo đảm tính chặt chẽ của tổ chức đó”. Các tổ chức muốn xây dựng cho mình một trật tự, kỷ cương làm việc tốt tất yếu phải đặt ra những quy định buộc mọi thành viên phải tuân theo. Các quy định càng chặt chẽ, khoa học và cụ thể thì tính kỷ luật càng cao, tổ chức đó càng có điều kiện phát triển ổn định, bền vững. 7 z + Nghĩa thứ hai: “Kỷ luật là hình thức phạt đối với người vi phạm kỷ luật”.
Khi thành viên trong một tổ chức có hành vi vi phạm quy định đã được đặt ra thì tùy theo tính chất, mức độ thiệt hại và nguyên nhân của vi phạm, tổ chức đó có thể áp dụng một hình thức phạt nhất định đối với thành viên vi phạm của mình. Trong xã hội nói chung, kỷ luật là những quy định về hành vi của con người theo những chuẩn mực do pháp luật, đạo đức quy định tùy theo từng thời kỳ lịch sử trên cơ sở lợi ích của toàn xã hội hay của một giai cấp nhất định. Kỷ luật mang tính tiến bộ khi nó bảo đảm sự phát triển của cả cộng đồng và cá nhân, cũng như bảo đảm quyền tự do của cá nhân trong phạm vi hợp lý và thống nhất với lợi ích của cộng đồng. Do mang tính tất yếu, khách quan nên trong mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức, trường học, bệnh viện,…nơi nào cũng có sự tồn tại của kỷ luật, tùy theo các mối quan hệ xã hội khác nhau mà hình thành nên các dạng kỷ luật khác nhau.
Trong trường học có kỷ luật của trường học, quân đội có kỷ luật quân đội, còn trong lao động có kỷ luật lao động. Vậy kỷ luật lao động là gì? Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Kỷ luật lao động được hiểu là chế độ làm việc đã được quy định và được sự chấp hành nghiêm túc, đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động, tạo ra sự hài hòa của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất” [26]. Như vậy, theo nghĩa thông thường và đơn giản nhất, kỷ luật lao động là những quy tắc quy định hành vi cá nhân của người lao động mà đơn vị sử dụng lao động xây dựng dựa trên cơ sở pháp luật hiện hành, chuẩn mực đạo đức xã hội và yêu cầu đặc thù của hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra một khuôn khổ, trật tự làm việc nhất định buộc mọi người phải tuân theo trên tinh thần hợp tác và nếu có sự vi phạm thì sẽ phải gánh chịu hình thức kỷ luật tương ứng. 8 z Dưới góc độ pháp lý, với tư cách là một chế định của Bộ Luật lao động, kỷ luật lao động là tổng thể những quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với cơ quan, đơn vị mà mình làm việc và các biện pháp xử lý kỷ luật, nếu người lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã được đặt ra.
Điều 118 Bộ luật lao động 2012 cũng đã đưa ra khái niệm kỷ luật lao động. Theo đó, kỷ luật lao động được hiểu là: “những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động”. Về cơ bản khái niệm kỷ luật lao động này không có điểm khác biệt nhiều so với khái niệm kỷ luật lao động đã được đề cập đến trong Bộ luật lao động 1994. Mặc dù, kỷ luật lao động và kỷ luật cán bộ, công chức thuộc hai phạm trù khác nhau nhưng trong thực tế nhiều người thường hiểu nhầm kỷ luật lao động bao gồm cả kỷ luật cán bộ, công chức.
Sự nhầm lẫn này cũng là điều dễ hiểu, bởi suy cho cùng kỷ luật cán bộ, công chức cũng chính là kỷ luật người lao động. Tuy nhiên, kỷ luật lao động khác với kỷ luật cán bộ, công chức ở đối tượng áp dụng. Nếu như đối tượng áp dụng của kỷ luật lao động là những người lao động làm công ăn lương, quan hệ lao động của họ được thiết lập trên cơ sở hợp đồng thì đối tượng áp dụng của kỷ luật cán bộ, công chức là những người lao động được Nhà nước tuyển dụng vào biên chế. Ngoài ra, trong kỷ luật lao động, người lao động bị coi là vi phạm kỷ luật khi họ có hành vi vi phạm các quy định trong nội quy lao động.
Còn trong kỷ luật cán bộ, công chức thì mỗi cán bộ, công chức bị coi là vi phạm kỷ luật khi có hành vi vi phạm các quy định của Luật cán bộ, công chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Nếu như người lao động vi phạm kỷ luật phải chịu trách nhiệm với người sử dụng lao động về hành vi vi phạm của mình thì cán bộ, công chức lại phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về hành vi vi phạm. Mặt 9 z khác, các hình thức kỷ luật được áp dụng trong kỷ luật lao động và kỷ luật cán bộ, công chức cũng có sự khác nhau, trong kỷ luật lao động sẽ không có các hình thức kỷ luật như: cảnh cáo, bãi nhiệm, giáng chức,… giống như kỷ luật cán bộ, công chức. Do đó, kỷ luật lao động và kỷ luật cán bộ, công chức là hai khái niệm khác nhau, không thể đồng nhất coi kỷ luật cán bộ, công chức là một phần của kỷ luật lao động.
Như vậy, từ quá trình phân tích trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về kỷ luật lao động như sau: Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của người lao động dựa trên ý chí của người sử dụng lao động và pháp luật hiện hành, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ, nếu có vi phạm xảy ra người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng lao động về hành vi vi phạm của mình. * Về bản chất kỷ luật lao động: Quản lý là hoạt động tất yếu, khách quan trong quá trình lao động nhằm gắn kết, hướng hoạt động của các cá nhân đơn lẻ thành hoạt động chung thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Các Mác từng nói rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [11]. Nếu như không có hoạt động quản lý thì năng suất, chất lượng lao động không thể đạt được hiệu quả cao như mong muốn.
Mặt khác, trong quan hệ lao động quyền quản lý lao động thuộc về người sử dụng lao động, bởi họ là người nắm giữ các tư liệu sản xuất chủ yếu. Đồng thời, với tư cách là người mua sức lao động của người lao động nên người sử dụng lao động có quyền quản lý đối với quá trình làm việc của người lao động nhằm đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhất cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Còn người lao động có nghĩa vụ phải tuân theo sự sắp xếp, điều hành của người sử dụng lao động. 10 z Người sử dụng lao động có nhiều cách thức để thực hiện tốt quyền quản lý lao động của mình, song một trong những cách thức quan trọng không thể không nhắc tới đó chính là thiết lập kỷ luật lao động.
Thông qua việc thiết lập và duy trì kỷ luật lao động, người sử dụng lao động có thể dễ dàng quản lý, điều hành quá trình lao động trong đơn vị bằng cách đặt ra các quy tắc, quy chế làm việc dựa trên ý chí của bản thân và quy định của pháp luật buộc người lao động phải tuân theo. Đồng thời, để đảm bảo cho việc nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động, người sử dụng lao động có quyền áp dụng các chế tài kỷ luật đối với người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động và khen thưởng đối với những người chấp hành tốt. Từ đó, tạo ra một trật tự, nề nếp trong lao động sản xuất, kinh doanh, làm thỏa mãn không chỉ lợi ích của người sử dụng lao động mà còn đảm bảo cho cả quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, góp phần duy trì quan hệ lao động ổn định, hài hòa, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Như vậy, dưới góc độ lý luận, kỷ luật lao động là một nội dung quan trọng trong quyền quản lý của người sử dụng lao động.
Việc thiết lập và duy trì kỷ luật lao động là nhu cầu tất yếu, khách quan trong quá trình tổ chức lao động xã hội.