Luận văn thạc sĩ: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích hay đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật u sọ hầu tại bệnh viện việt đức, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú

2014

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lược sử bệnh u sọ hầu

1.2. Giải phẫu hố yên xoang bướm

1.3. Giải phẫu bệnh u sọ hầu

1.4. Dịch tễ học

1.5. Chẩn đoán u sọ hầu

1.6. Phân loại u sọ hầu

1.7. Điều trị u sọ hầu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4. Phương pháp xử lí số liệu

2.5. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Tuổi và giới

3.3. Triệu chứng lâm sàng

3.4. Đặc điểm cận lâm sàng

3.5. Kết quả sớm phẫu thuật u sọ hầu

3.6. Kết quả xa sau mổ

3.7. Liên quan một số yếu tố đến kết quả phẫu thuật

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Tuổi và giới

4.3. Triệu chứng lâm sàng

4.4. Kết quả sớm phẫu thuật u sọ hầu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phẫu thuật u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức

Phẫu thuật u sọ hầu là một trong những phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân mắc bệnh này. Tại Bệnh viện Việt Đức, phẫu thuật được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại và đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao. U sọ hầu, một loại u lành tính, thường gây ra nhiều triệu chứng nghiêm trọng như rối loạn nội tiết và thị giác. Việc đánh giá hiệu quả phẫu thuật là cần thiết để cải thiện chất lượng điều trị.

1.1. Đặc điểm của u sọ hầu và triệu chứng lâm sàng

U sọ hầu thường gặp ở cả trẻ em và người lớn, với triệu chứng như rối loạn thị giác, tăng áp lực nội sọ. Việc nhận diện sớm triệu chứng là rất quan trọng để có phương pháp điều trị kịp thời.

1.2. Vai trò của Bệnh viện Việt Đức trong điều trị u sọ hầu

Bệnh viện Việt Đức là một trong những cơ sở y tế hàng đầu tại Việt Nam trong việc điều trị u sọ hầu. Với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại, bệnh viện đã thực hiện nhiều ca phẫu thuật thành công.

II. Thách thức trong phẫu thuật u sọ hầu và biến chứng

Phẫu thuật u sọ hầu không chỉ đơn thuần là cắt bỏ khối u mà còn phải đảm bảo không làm tổn thương các cấu trúc xung quanh như tuyến yên và các dây thần kinh. Biến chứng có thể xảy ra trong và sau phẫu thuật, ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân. Việc đánh giá các biến chứng này là rất quan trọng để cải thiện quy trình phẫu thuật.

2.1. Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật

Các biến chứng như rò dịch não tủy, nhiễm trùng, và tổn thương thần kinh có thể xảy ra. Việc theo dõi và xử lý kịp thời các biến chứng này là rất cần thiết.

2.2. Thời gian hồi phục sau phẫu thuật u sọ hầu

Thời gian hồi phục sau phẫu thuật u sọ hầu có thể khác nhau tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Việc chăm sóc và theo dõi sau phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục.

III. Phương pháp phẫu thuật u sọ hầu hiệu quả tại Bệnh viện Việt Đức

Bệnh viện Việt Đức áp dụng nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau để điều trị u sọ hầu, bao gồm phẫu thuật mở và phẫu thuật nội soi. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất.

3.1. Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm

Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm là một trong những phương pháp hiện đại được áp dụng tại Bệnh viện Việt Đức. Phương pháp này giúp giảm thiểu tổn thương cho các cấu trúc xung quanh và rút ngắn thời gian hồi phục.

3.2. Phẫu thuật mở truyền thống

Phẫu thuật mở truyền thống vẫn được áp dụng trong một số trường hợp nhất định. Phương pháp này cho phép bác sĩ tiếp cận trực tiếp khối u, nhưng có thể gây ra nhiều biến chứng hơn so với phẫu thuật nội soi.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả phẫu thuật u sọ hầu

Nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Đức cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật u sọ hầu là khá cao. Việc theo dõi bệnh nhân sau phẫu thuật cho thấy nhiều bệnh nhân đã hồi phục tốt và không gặp phải biến chứng nghiêm trọng. Kết quả này khẳng định hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật hiện tại.

4.1. Đánh giá kết quả phẫu thuật qua thang điểm Karnofsky

Thang điểm Karnofsky được sử dụng để đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật. Kết quả cho thấy sự cải thiện rõ rệt ở nhiều bệnh nhân.

4.2. Tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật

Tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức được ghi nhận là thấp, cho thấy hiệu quả của việc cắt bỏ hoàn toàn khối u.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị u sọ hầu

Phẫu thuật u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức đã đạt được nhiều thành công đáng kể. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp điều trị để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu biến chứng. Triển vọng trong tương lai là áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình phẫu thuật.

5.1. Công nghệ mới trong phẫu thuật u sọ hầu

Công nghệ mới như định vị thần kinh và phẫu thuật robot có thể giúp cải thiện độ chính xác và an toàn trong phẫu thuật u sọ hầu.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc đánh giá lâu dài các bệnh nhân sau phẫu thuật và tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật u sọ hầu tại bệnh viện việt đức

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ U sọ hầu (craniopharyngiomas) là loại u biểu mô vảy lành tính ít gặp, phát triển chậm, nằm phần lớn ở vùng hố yên và trên yên, quanh tuyến yên và cuống tuyến yên [1], [3], [10], [16], [40], [43], [51]. U sọ hầu (USH) có thể gặp ở cả trẻ em và người trưởng thành, chiếm 3 - 4% u nội sọ. Tỷ lệ mới mắc được phát hiện 0,5 - 2 ca/ 1 triệu dân/ năm; tỷ lệ gặp ở hai giới tương đương nhau [26], [32]. U sọ hầu có nguồn gốc từ túi Rathke, cấu trúc thường bao gồm phần đặc, có các mảnh canxi và nang dịch nhầy chứa tinh thể cholesterol.

U sọ hầu gây nên các triệu chứng về mắt, rối loạn nội tiết, rối loạn tâm thần, tăng áp lực nội sọ, béo phì, đái tháo nhạt và dậy thì muộn [35]. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh cộng hưởng từ (CHT) hay cắt lớp vi tính (CLVT) thông qua triệu chứng lâm sàng gợi ý. Điều trị chính bằng phẫu thuật, thường phải kết hợp với điều trị nội tiết hỗ trợ trước và sau phẫu thuật ở một số bệnh nhân. U thường tái phát tại chỗ, xâm lấn vào các cấu trúc thần kinh quan trọng xung quanh nó nếu không cắt bỏ hoàn toàn [32], [40].

Đây là khối u lành tính nên để việc điều trị có kết quả tốt phải lấy bỏ hết khối u mà không làm tổn thương tuyến yên, cuống tuyến yên và các cấu trúc quan trọng xung quanh. Nhưng bản chất khối u thường dính chặt và xâm lấn vào các cấu trúc quan trọng này nên việc cắt bỏ hết khối u mà không gây ra các biến chứng là điều rất khó khăn. Chọn đường mổ và phương pháp mổ từ lâu được các nhà phẫu thuật thần kinh bàn bạc và đang còn tranh cãi nhiều như đường mổ qua đường mổ sọ; đường mổ dưới trán, trán hai bên, trán thái dương, qua não thất. và đường mổ hiện đang được nghiên cứu, áp dụng nhiều là qua xoang bướm, qua xoang bướm mở rộng, đặc biệt áp dụng nội soi 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 vào đường mổ qua mũi xoang bướm được nhiều tác giả áp dụng do tỷ lệ thành công cao và biến chứng thấp [35], [46].

Cùng với sự phát triển các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, các dụng cụ phẫu thuật nội soi nền sọ ngày càng hoàn thiện làm cho cuộc mổ thuận lợi hơn, sử dụng đường mổ qua xoang bướm mở rộng đã thay đổi hẳn chiến thuật điều trị phẫu thuật những khối u khó tiếp cận. Nguy cơ lớn nhất mổ u sọ hầu qua nội soi là rò dịch não tủy ngày nay đã được nghiên cứu điều trị, sử dụng các vật liệu chống rò trong mổ đã được áp dụng cho nên các biến chứng này đã được hạn chế rất nhiều [5], [12], [23], [29]. Tại Việt Nam, phẫu thuật u sọ hầu được thực hiện chủ yếu tại một số trung tâm lớn, thường qua đường mổ sọ trán hai bên, trán thái dương hay trán dưới. Việc ứng dụng phẫu thuật nội soi qua xoang bướm để lấy u sọ hầu mới được đưa vào và cũng chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ lâu dài về chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật lấy u sọ hầu.

Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu: 1. Mô tả một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh u sọ hầu được phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức, từ ngày 19/08/2013 đến hết ngày 31/05/2013. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức. 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

Lƣợc sử bệnh u sọ hầu 1. Lược sử bệnh u sọ hầu trên thế giới. - 1857, Friedrich Albert Von Zenker, nhà giải phẫu bệnh người Đức là người đầu tiên mô tả về u sọ hầu: là khối u biểu mô lành tính phát triển ở vùng tuyến yên và trên yên. - 1904, Sakob Erdheim là người mô tả đầy đủ về tính chất giải phẫu và đặc điểm u sọ hầu.

Halstead ở Chicago là người đầu tiên phẫu thuật thành công lấy bỏ u sọ hầu. - 1932, Harvey Cushing thông báo mổ 92 ca u sọ hầu, tỷ lệ chết 14,6%. Trong tổng số đó có 14 ca phẫu thuật qua xoang bướm. Thuật ngữ u sọ hầu chính thức giới thiệu và sau đó sự phát triển các nghiên cứu về u sọ hầu được tiến hành sâu hơn về mặt lâm sàng, cận lâm sàng cũng như các phương pháp phẫu thuật [43], [51].

- Từ năm 1965 phẫu thuật qua đường xoang bướm được phổ biến rộng rãi bởi Gerrard Guiot và Jules Hardy cùng với kính vi phẫu và các dụng cụ vi phẫu điều trị an toàn với các u tuyến yên, u sọ hầu và u vùng hố yên. - 1980, Laws và cộng sự thông báo mổ một số lượng lớn u sọ hầu qua xoang bướm, qua đường xoang bướm mở rộng. Ngày nay, phẫu thuật này được thực hiện hầu hết ở các trung tâm phẫu thuật thần kinh trên thế giới bằng kính vi phẫu hoặc nội soi qua đường xoang 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bướm, rất ít trường hợp mổ đường trán, trán thái dương hay trán hai bên, kể cả những bệnh nhân đã mổ nhiều lần với nhiều vị trí vào u [23], [29], [31]. Lược sử bệnh u sọ hầu tại Việt Nam.

- Năm 1991 – 1995, Vũ Tự Huỳnh và cộng sự thông báo tại Bệnh viện Việt Đức, u sọ hầu gặp chủ yếu ở bệnh nhân dưới 20 tuổi chiếm 70%. - Năm 2004, Lê Thành Quỳnh thông báo 32 ca u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức. - Năm 2007, Nguyễn Hữu Duy, Trần Minh Tường thông báo 12 ca nội soi dẫn lưu nang qua đường xoang bướm tại Bệnh viện Chợ Rẫy. - Từ năm 2000, tại Bệnh viện Việt Đức, phẫu thuật qua xoang bướm được thực hiện với các u tuyến yên, u sọ hầu và một số u nền sọ khác.

- Năm 2002 Đồng Văn Hệ và cộng sự báo cáo phẫu thuật 25 ca u sọ hầu với tỷ lệ tử vong 8.5% trường hợp, tái phát và mổ lại 8% (y học thực hành). - Từ năm 2011, phẫu thuật nội soi qua xoang bướm được thực hiện và đến nay đã thành thường quy. Phẫu thuật u sọ hầu vẫn được thực hiện thường quy qua đường mở sọ. - Năm 2011 Nguyễn Kim Chung báo cáo 48 trường hợp u sọ hầu [13].

- Từ năm 2012, đã thực hiện một số ca lấy u sọ hầu qua nội soi mũi xoang bướm thành công. - Năm 2013, tại hội nghị phẫu thuật thần kinh Việt Nam lần thứ 14: Kiều Đình Hùng và cộng sự báo cáo 7 bệnh nhân u sọ hầu được phẫu thuật nội soi qua xoang bướm. Lý Ngọc Liên và cộng sự báo cáo ứng dụng phẫu thuật nội soi qua mũi xoang bướm điều trị u sọ hầu ở trẻ em với 3 trường hợp [4], [5], [12]. 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Và năm 2013 - đến nay tại Bệnh viện Việt Đức hầu hết các ca u sọ hầu được phẫu thuật nội soi qua xoang bướm có định vị Neuro Navigation.

Giải phẫu hố yên xoang bƣớm 1. Vùng hố yên - Hố yên là một phần của xương bướm lõm xuống, là nơi chứa tuyến yên. Bình thường hố yên mỏng và sẽ mỏng hơn trong các bệnh lý vùng hố yên. - Hai bên là hai động mạch cảnh trong chạy qua trong xương bướm và hai dây thị giác.

- Phía sau là não thất III và sau đó là động mạch thân nền chạy ở mặt trước cầu não. - Phía trước có giao thoa thị giác vắt ngang qua lưng yên. - Phía trên là cuống tuyến yên rất mảnh [7], [8]. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Ảnh cắt ngang qua giao thoa thị giác (Hình 102 Atlas giải phẫu người Frank H.

Xoang bướm Xoang bướm nằm ở thân xương bướm, kích thước khác nhau tùy thuộc vào tuổi và từng bệnh nhân. Xoang thường có 1-3 vách chia xoang thành nhiều khoang nhỏ, hiếm khi vách chia nằm ở chính giữa. Xoang bướm có 4 thành: - Thành trước: nằm ở phía dưới, hơi nghiêng về phía trước dưới. Ngay phía trước của thành trước có lỗ thông xoang bướm.

Lỗ này nằm trong ngách bướm sàng, ngay sau cuốn mũi trên, có thể thấy được khi thăm dò thành trước xoang bướm. Đây là mốc để ta mở thành trước xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên qua xoang bướm với kính vi phẫu hoặc nội soi. Hình dạng lỗ thông xoang bướm cũng thay đổi tùy từng bệnh nhân, hình khe hẹp, hình ô van hoặc hình tròn. Mỗi bên có một lỗ thông xoang bướm, nhưng đôi khi có hai hoặc ba lỗ.

Hiếm khi lỗ thông xoang bướm rộng tới mức có thể nhìn thấy được các thành phần trong xoang qua các lỗ này [7], [8], [50]. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Ảnh cắt dọc qua tuyến yên xoang bướm (Hình 105 Atlas giải phẫu người Frank H. Nétter, MD 2012 - Thành trên: thường lồi ra giống hình bóng do sự đẩy xuống của hố yên. Đây cũng chính là sàn hố yên.

Đôi khi giao thoa thị giác đẩy xuống tạo thành ấn giao thoa ở thành trên xoang bướm. Thành này thường bị mỏng hoặc bị thủng nếu u tuyến yên phát triển xuống dưới. - Thành bên: có hai phần lồi lên của dây thần kinh thị giác và động mạch cảnh trong (ấn thị giác và ấn động mạch cảnh). Tùy thuộc vào kích thước xoang bướm mà hai ấn này rõ hay chỉ gồ lên một chút.

Phần lồi của dây thần kinh thị giác thường bị kéo dài từ trước ra sau và biến mất khi đi đến thành sau của xoang bướm. Đôi khi dây thần kinh thị giác đi theo hình vòng cung hướng vào trong để đến giao thoa thị giác và phần giao thoa cũng có thể lồi vào trong ở thành trên xoang bướm. Phần lồi của động mạch cảnh trong ở 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thành trên xoang bướm cũng rất khác nhau. Trong trường hợp xoang bướm rộng thì phần lồi của động mạch cảnh trong vào xoang bướm rất sâu, thậm chí có thể vào tới đường giữa [1].

- Vách liên xoang bướm: vách có thể nằm chính giữa hoặc lệch về một bên, vách chia xoang bướm thành hai phần không đều nhau. Vách đi đến phần sau trên của xoang, gắn vào lồi xương của dây thần kinh thị giác hoặc lồi xương của động mạch cảnh trong.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá hiệu quả phẫu thuật u sọ hầu tại Bệnh viện Việt Đức" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và kết quả của phẫu thuật u sọ hầu, một loại bệnh lý phức tạp trong lĩnh vực y học. Bài viết không chỉ phân tích các phương pháp phẫu thuật hiện tại mà còn đánh giá hiệu quả điều trị, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những thách thức và thành công trong việc điều trị bệnh nhân.

Đặc biệt, tài liệu này mang lại lợi ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và sinh viên y khoa, giúp họ cập nhật kiến thức và cải thiện kỹ năng chuyên môn. Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ đánh giá kết quả điều trị hẹp niệu quản bằng laser holmium tại bệnh viện việt đức, nơi cung cấp thông tin về một phương pháp điều trị khác trong lĩnh vực phẫu thuật.

Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng vi phẫu thuật điều trị một số u tầng trước nền sọ bằng đường mở nắp sọ lỗ khóa trên cung mày cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các kỹ thuật vi phẫu thuật hiện đại trong điều trị u sọ.

Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu các biến chứng sau phẫu thuật cắt gan do ung thư theo phương pháp tôn thất tùng sẽ cung cấp thêm thông tin về các biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn nắm bắt được các xu hướng và phương pháp điều trị mới trong y học.