Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than Chương 3: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV khu vực Quảng Ninh Chương 4: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV khu vực Quảng Ninh 11 luan an ` Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong giai đoạn gần đây, số lượng doanh nghiệp ngày càng nhiều và sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng gay gắt, dẫn đến nhu cầu nâng cao HQKD của doanh nghiệp để tồn tại và phát triển trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, quan điểm HQKD bắt đầu được các nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm làm rõ để phù hợp hơn với đặc điểm của từng ngành, lĩnh vực như một cơ sở định hướng các doanh nghiệp nâng cao HQKD. Mỗi một nghiên cứu, tùy theo mục đích nghiên cứu, HQKD được tiếp cận từ những khía cạnh khác nhau. Khi nghiên cứu tài liệu liên quan tới HQKD, tác giả nhận thấy quan niệm HQKD được tiếp cận theo 3 hướng khác nhau: (1) tiếp cận HQKD từ góc độ tài chính; (2) tiếp cận hiệu quả kinh tế từ góc độ hoạt động của doanh nghiệp; và (3) tiếp cận HQKD từ góc độ tích hợp cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Tiếp cận hiệu quả kinh doanh từ góc độ tài chính Từ góc độ tài chính doanh nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hiệu quả kinh doanh gắn liền với việc đạt được các mục tiêu tài chính như tăng khả năng sinh lời, tăng lợi nhuận, doanh thu hay giảm chi phí. Từ điển tiếng Anh của Oxford (OED) đã đưa ra khái niệm HQKD là: “khả năng sinh lời của một hoạt động đầu tư, trong tương quan với các cơ hội đầu tư khác” [53]. Đồng tình với khái niệm đồng nhất HQKD với khả năng sinh lời, hay khả năng tạo ra giá trị này, Hada (2013) cũng cho rằng HQKD là “khả năng tạo ra giá trị của doanh nghiệp, bằng cách sản xuất hàng hóa và dịch vụ đem lại giá trị lớn hơn chi phí cho các nguồn lực để sản xuất ra khối lượng hàng hóa và dịch vụ đó” [67] và Mai Văn Bưu (2001) cũng công nhận HQKD đơn thuần là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp [5],. Cũng theo quan điểm này, nhưng với cách hiểu cụ thể hơn, tác giả Nguyễn Trần Quế (1995) cho rằng HQKD phản ánh: “mức độ tiết kiệm chi phí và tăng kết quả kinh doanh”[21].
Quan điểm HQKD đơn thuần là hiệu quả tài chính doanh nghiệp phổ biến trong các nghiên cứu về doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp nhà nước tại Việt 12 luan an ` Nam trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh không quá lớn. Với quan điểm này, tiêu chí đánh giá HQKD là khả năng sinh lời và các chỉ tiêu thường được quan tâm sử dụng để đánh giá HQKD chủ yếu là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư (ROI). Hầu hết các nhà kinh tế đều công nhận hiệu quả tài chính là một nội dung quan trọng của HQKD, nhưng để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh biến động không ngừng hiện nay, việc chỉ xem xét đánh giá hiệu quả tài chính là chưa đủ để doanh nghiệp cải tiến tổ chức hoạt động kinh doanh của mình nhằm đạt mục tiêu tồn tại và phát triển bền vững. Chính vì vậy, quan điểm này về HQKD hiện nay không còn phổ biến nữa.
Quan điểm đồng nhất HQKD với hiệu quả tài chính giờ chỉ còn phù hợp với những doanh nghiệp nhỏ trong một môi trường kinh doanh ổn định, theo đó các nhà quản lý có thể nắm bắt dễ dàng tình hình của doanh nghiệp. Tiếp cận hiệu quả kinh doanh từ góc độ hoạt động của doanh nghiệp Hiện nay, đa phần các nhà kinh tế đều tiếp cận HQKD từ góc độ hoạt động của doanh nghiệp. Bùi Xuân Phong (1999) cho rằng: “HQKD là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh”[18]. Các tác giả Nguyễn Thị Minh An (2003); Nguyễn Văn Công (2009); Dương Văn Chung (2003); Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền (2001); Nguyễn Thị Thanh Hải (2013); Ngô Quang Huân (2002); và Phạm Ngọc Kiểm (2002) cũng đưa ra quan điểm về HQKD gần giống với quan điểm về HQKD của Bùi Xuân Phong [1], [6], [7], [9],[11],[13],[15].
Các tác giả cho rằng HQKD không chỉ đơn thuần là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, HQKD biểu hiện trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu trong nhiều khía cạnh của hoạt động kinh doanh. Theo cách tiếp cận này, các doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tập trung vào việc tìm kiếm lợi ích cho doanh nghiệp mà không quan tâm tới việc hài hòa với lợi ích chung của xã hội. Các tiêu chí đánh giá HQKD trong các nghiên cứu trên, được đưa ra dưới các góc nhìn khác nhau, nhưng đa số nghiên cứu 13 luan an ` đánh giá hiệu quả theo một trong các khía cạnh sau: Tài chính, khách hàng/thị trường, Quy trình nội bộ; Đào tạo/Nhận thức và phát triển, chi phí. Quan điểm HQKD tiếp cận từ góc độ hoạt động của doanh nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ủng hộ vì quan điểm này đã giúp nhiều doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đánh giá toàn diện HQKD để từ đó có những biện pháp tác động hữu hiệu giúp doanh nghiệp hoàn thành các mục tiêu chiến lược và đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Các tiêu chí đánh giá HQKD được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phát triển phù hợp với từng ngành, nghề lĩnh vực đã giúp các doanh nghiệp tìm ra và tập trung vào những giá trị cốt lõi của mình và giúp nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp với những doanh nghiệp nhà nước, bên cạnh việc gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp và các cổ đông, các doanh nghiệp này còn phải thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao phó với những mục tiêu hướng tới việc đảm bảo lợi ích của nền kinh tế, cộng đồng, khách hàng hay nhà cung ứng…. những doanh nghiệp xã hội hướng mục đích tới việc tạo ra lợi ích cho cộng đồng hoặc những doanh nghiệp lớn đến mức mà hoạt động kinh doanh của họ có ảnh hưởng mạnh tới cộng đồng và nền kinh tế. Tiếp cận hiệu quả kinh doanh từ góc độ tích hợp hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Kể từ đầu thế kỷ 21, vai trò của doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp xã hội và những doanh nghiệp lớn) đối với xã hội đã được nhìn nhận nhiều hơn, và quan điểm đánh giá HQKD của doanh nghiệp cần phải đánh giá cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội bắt đầu xuất hiện và ngày càng được đề cập nhiều hơn trong các nghiên cứu.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII ghi rõ: “lấy suất sinh lợi của tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp”. Đồng tình với quan điểm này, Nguyễn Văn Tạo (2004) và Nguyễn Thị Mai Hương (2008) sau khi đưa ra khái niệm HQKD giống như các nhà kinh tế theo quan điểm hiệu quả hoạt động, cũng đã nhấn mạnh thêm “HQKD của doanh nghiệp được coi là tối ưu 14 luan an ` nhất khi kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội” [14],[22]. Với quan điểm này, HQKD có thể được hiểu là “một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của doanh nghiệp”. Hiệu quả xã hội được hiểu là những lợi ích mà doanh nghiệp tạo ra cho cộng đồng và các bên liên quan từ những nguồn lực của mình.
Hiệu quả xã hội được đo lường bằng các tiêu chí: môi trường, xã hội, lao động và quyền con người, [10],[12],[60]; trách nhiệm sản phẩm [10];và sử dụng năng lượng, sử dụng nguồn nước [60]. Theo các tiếp cận này, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả cần tìm kiếm không chỉ lợi ích cho riêng doanh nghiệp mà còn cần tìm kiếm lợi ích cho cộng đồng và các bên liên quan. Việc đánh giá HQKD của doanh nghiệp theo quan điểm này không chỉ giúp doanh nghiệp tập trung cải tiến những yếu tố ảnh hưởng tới HQKD bên trong doanh nghiệp mà còn bao quát được cả những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới HQKD của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy hiệu quả của chuỗi cung ứng mà doanh nghiệp là một phần trong đó, cũng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Tuy nhiên, do tính phức tạp trong xác định tiêu chí đánh giá HQKD nên các doanh nghiệp theo quan điểm này cần có nguồn lực đủ lớn để có thể theo đuổi những mục tiêu xã hội, đồng thời vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế.
Chính vì vậy, quan điểm HQKD tích hợp cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội sẽ phù hợp hơn với những doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp nhà nước và những doanh nghiệp xã hội. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Tổng quan về quan điểm hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp HTCT đánh giá HQKD của doanh nghiệp được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng HTCT đánh giá HQKD là ”tập hợp các chỉ tiêu” [11],[17],[48]; hoặc HTCT đánh giá HQKD là 15 luan an ` ”hệ thống thông tin quản lý” [38], [42], [44], [49]; hay là ”tập hợp các số liệu được sử dụng để định lượng HQKD” [35].
Như vậy, có thể thấy rằng HTCT đánh giá HQKD là một tập hợp các chỉ tiêu (số liệu) cung cấp các thông tin quản lý cho doanh nghiệp.