Tổng quan nghiên cứu

Đột quỵ não là một trong những nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba trên toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng tàn tật kéo dài. Theo các báo cáo y tế, thể nhồi máu não chiếm khoảng 80% tổng số các ca đột quỵ. Trong số các di chứng thường gặp, có tới 69% người bệnh bị suy giảm chức năng vận động chi trên và bàn tay ngay sau cơn đột quỵ, đồng thời gần 56% bệnh nhân tiếp tục đối mặt với sự suy giảm chức năng này kéo dài suốt 5 năm tiếp theo. Việc mất khả năng cử động bàn tay khiến người bệnh không thể thực hiện các động tác tinh vi, mất khả năng tự chăm sóc trong sinh hoạt hàng ngày và tạo gánh nặng lớn cho gia đình cũng như xã hội.

Nhằm giải quyết bài toán cấp thiết trên, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học cổ truyền của tác giả Nguyễn Trương Đàn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Vân tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, đã tiến hành nghiên cứu can thiệp lâm sàng: Đánh giá kết quả điều trị phục hồi chức năng vận động chi trên ở người bệnh do nhồi máu não sau giai đoạn cấp bằng điện châm kết hợp bài tập CIMT. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 04/2020 đến tháng 11/2020 tại Khoa Đột quỵ - Phục hồi chức năng thuộc Bệnh viện Châm cứu Trung ương trên 84 bệnh nhân nhồi máu não.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá mức độ phục hồi chức năng vận động cánh tay và sự khéo léo của bàn tay khi ứng dụng phối hợp giữa kỹ thuật điện châm truyền thống với liệu pháp vận động bắt buộc bên liệt, đồng thời theo dõi tính an toàn của phác đồ này trên lâm sàng. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn khi nâng tỷ lệ phục hồi toàn diện chi trên đạt mức khá và tốt lên tới 80,95%, mở ra hướng tiếp cận kết hợp Đông - Tây y tối ưu trong điều trị di chứng tai biến mạch máu não.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa lý luận y học cổ truyền và cơ chế phục hồi thần kinh hiện đại. Theo y học cổ truyền, đột quỵ não thuộc phạm trù chứng trúng phong, bán thân bất toại hoặc thiên khô. Sau giai đoạn cấp tính (từ ngày thứ 20 trở đi), cơ thể người bệnh rơi vào tình trạng chính khí hư suy, khí trệ huyết ứ, kinh lạc bế tắc làm cơ nhục và cân mạch không được nuôi dưỡng. Pháp điều trị chủ đạo trong giai đoạn này là phù chính khứ tà, ích khí hoạt huyết và thông kinh hoạt lạc. Phác đồ sử dụng thủ pháp tả trên các huyệt thuộc kinh Dương như Giáp tích C4-C7 bên liệt, Kiên tỉnh, Kiên trinh, Tý nhu, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Bát tà nhằm giải phóng co cứng, kết hợp châm bổ các huyệt kinh Âm như Tam âm giao, Thận du, Thái khê, Huyết hải để bồi bổ chân âm và điều hòa khí huyết.

Dưới góc độ y học hiện đại, nghiên cứu ứng dụng nguyên lý mềm dẻo của hệ thần kinh cùng liệu pháp vận động cưỡng bức được phát triển từ năm 1980. Liệu pháp này hoạt động dựa trên cơ chế cố định chi lành để ép buộc chi bên liệt phải vận động lặp đi lặp lại với cường độ cao, từ đó phá vỡ hiện tượng bất sử dụng do tập nhiễm và kích thích tái tổ chức vỏ não vận động. Đồng thời, dòng điện xung từ máy điện châm tạo ra các cung phản xạ ức chế phản xạ bệnh lý, tăng cường dinh dưỡng mô cơ, hỗ trợ đào thải acid lactic và phục hồi dẫn truyền thần kinh cơ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế tiến cứu, can thiệp lâm sàng có đối chứng. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 84 bệnh nhân được tính toán chặt chẽ theo công thức so sánh hai tỷ lệ trong thử nghiệm lâm sàng với độ tin cậy 95% và độ mạnh 90%. Bệnh nhân được tuyển chọn theo các tiêu chuẩn: chẩn đoán nhồi máu não lần đầu sau giai đoạn cấp xác định qua chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ sọ não, không có suy giảm nhận thức với thang điểm trạng thái tâm thần tối thiểu từ 24 điểm trở lên, mức độ liệt nhẹ đến vừa với chỉ số đột quỵ quốc gia dưới 15 điểm và điểm vận động chi trên từ 10 điểm trở lên.

Mẫu nghiên cứu được phân chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm đồng đều:

  • Nhóm can thiệp (42 bệnh nhân): Điều trị bằng phác đồ điện châm kết hợp bài tập vận động bắt buộc. Điện châm thực hiện 30 phút mỗi lần, 1 lần mỗi ngày trong 20 ngày. Bài tập bắt buộc được tiến hành 30 phút mỗi lần, 2 lần mỗi ngày trong suốt 20 ngày với nẹp cố định tay lành.
  • Nhóm đối chứng (42 bệnh nhân): Điều trị bằng phương pháp điện châm đơn thuần theo cùng phác đồ 30 phút mỗi ngày trong 20 ngày.

Các công cụ lượng giá lâm sàng chuẩn quốc tế bao gồm: thang đo vận động chi trên Fugl-Meyer với 33 tiểu mục cho tổng điểm tối đa 66 điểm, thang đo chuyển động khéo léo bàn tay với 6 mức độ từ 1 đến 6 điểm và thang điểm quy đổi tổng hợp đánh giá mức độ hồi phục chung. Toàn bộ số liệu thu thập tại các thời điểm trước điều trị, sau 10 ngày và sau 20 ngày được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng thông qua kiểm định tham số và phi tham số với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác định ở mức xác suất sai số dưới 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích đặc điểm dịch tễ trên 84 bệnh nhân tham gia nghiên cứu ghi nhận độ tuổi trung bình là 62,1 ± 11,1 tuổi, trong đó nhóm tuổi từ 60 đến 69 chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,9%. Nam giới chiếm ưu thế với 57,1% (48 bệnh nhân) so với nữ giới là 42,9% (36 bệnh nhân). Về tiền sử bệnh lý nền, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu chiếm 66,7% (56 bệnh nhân), tiếp theo là đái tháo đường chiếm 40,5% (34 bệnh nhân) và rối loạn chuyển hóa lipid chiếm 29,8% (25 bệnh nhân). Đa số người bệnh nhập viện điều trị trong vòng dưới 1 tháng kể từ khi khởi phát, chiếm tỷ lệ 54,8%.

Về kết quả phục hồi sự khéo léo của bàn tay theo thang đo chuyển động tay:

  • Trước điều trị, điểm số giữa hai nhóm tương đương nhau với nhóm can thiệp đạt 2,4 ± 0,71 điểm và nhóm đối chứng đạt 2,43 ± 0,67 điểm.
  • Sau 10 ngày điều trị, điểm số của nhóm can thiệp tăng lên 3,38 ± 0,7 điểm so với nhóm chứng đạt 3,19 ± 0,9 điểm.
  • Sau 20 ngày điều trị, nhóm can thiệp đạt 4,31 ± 0,8 điểm, cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng chỉ đạt 3,98 ± 0,6 điểm với sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê rõ rệt. Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân đạt mức phục hồi tốt ở nhóm can thiệp đạt 31,0% (13 bệnh nhân), cao gần gấp đôi so với nhóm đối chứng là 16,7% (7 bệnh nhân).

Về kết quả phục hồi vận động cánh tay theo thang đo Fugl-Meyer:

  • Sau liệu trình 20 ngày, điểm vận động trung bình của nhóm can thiệp đạt 2,76 ± 0,6 điểm, vượt trội hơn so với mức 2,64 ± 0,49 điểm của nhóm đối chứng.
  • Tỷ lệ bệnh nhân đạt mức phục hồi vận động tốt ở nhóm can thiệp là 9,5% (4 bệnh nhân), trong khi nhóm đối chứng không có bệnh nhân nào đạt mức tốt (0%). Tỷ lệ bệnh nhân đạt mức khá ở nhóm can thiệp chiếm 73,8%, cao hơn mức 64,3% của nhóm đối chứng.

Về đánh giá tổng hợp mức độ cải thiện chức năng chi trên:

  • Nhóm can thiệp ghi nhận 14,29% bệnh nhân đạt mức tốt và 66,67% đạt mức khá, đưa tổng tỷ lệ người bệnh đáp ứng tích cực đạt mức 80,95%.
  • Nhóm đối chứng chỉ đạt tổng tỷ lệ đáp ứng tích cực là 59,52% với toàn bộ thuộc mức khá và không có ca nào đạt mức tốt.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về kết quả điều trị ở nhóm can thiệp chứng minh tính hiệp đồng tác dụng mạnh mẽ giữa điện châm và kỹ thuật vận động bắt buộc. Điện châm giúp lưu thông khí huyết, giải tỏa co thắt cơ và kích thích các thụ thể cảm giác ngoại vi. Khi kết hợp cùng bài tập cưỡng bức có định hướng chức năng, người bệnh bị ép buộc phải huy động các nhóm cơ bên liệt để cầm nắm, xoay cổ tay, với đồ vật và thực hiện sinh hoạt hàng ngày. Quá trình này thúc đẩy vỏ não tái lập các đường dẫn truyền thần kinh mới để thay thế cho vùng mô não bị hoại tử do thiếu máu cục bộ.

Khi phân tích động thái phục hồi, dữ liệu có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ đường tiến trình điểm số chức năng bàn tay qua các mốc thời gian trước điều trị, ngày thứ 10 và ngày thứ 20. Đồ thị cho thấy độ dốc tăng trưởng điểm số ở nhóm can thiệp cao hơn đáng kể từ ngày thứ 10 trở đi. Bên cạnh đó, biểu đồ cột so sánh tỷ lệ xếp loại chức năng chi trên sau điều trị làm nổi bật sự dịch chuyển từ nhóm mức độ trung bình sang nhóm khá và tốt ở nhóm can thiệp so với nhóm đối chứng.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trong nước và quốc tế về hiệu quả của kỹ thuật vận động bắt buộc cải biên trên bệnh nhân nhồi máu não. Về tính an toàn, quá trình theo dõi lâm sàng không ghi nhận bất kỳ tai biến hay tác dụng phụ nguy hiểm nào như chảy máu hay bầm tím diện rộng, đồng thời các chỉ số sinh lý gồm mạch, huyết áp và thân nhiệt của 100% bệnh nhân đều duy trì trong giới hạn ổn định suốt liệu trình 20 ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng lâm sàng xác thực từ nghiên cứu, tác giả đề xuất 4 giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng điều trị di chứng đột quỵ:

  • Chuẩn hóa và ban hành phác đồ điều trị tích hợp: Đề nghị Hội đồng chuyên môn Bộ Y tế và các bệnh viện chuyên khoa Y học cổ truyền, Phục hồi chức năng trên toàn quốc xem xét phê duyệt quy trình kỹ thuật điện châm kết hợp bài tập vận động bắt buộc bên liệt thành phác đồ điều trị tiêu chuẩn. Mục tiêu nâng tỷ lệ bệnh nhân phục hồi chức năng chi trên đạt mức khá và tốt lên trên 80% trong vòng 12 tháng tới.
  • Tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật chuyên sâu: Các cơ sở y tế tuyến trên cần định kỳ 3 tháng một lần tổ chức các khóa đào tạo thực hành cho 100% bác sĩ, kỹ thuật viên vật lý trị liệu và điều dưỡng về phương pháp lựa chọn huyệt vị, điều chỉnh tần số xung điện từ 1 đến 10 Hz và kỹ thuật cố định tay lành đúng quy cách nhằm hạn chế biến chứng co rút cơ.
  • Xây dựng tài liệu hướng dẫn tự luyện tập có giám sát tại nhà: Khoa Đột quỵ và Phục hồi chức năng cần biên soạn sổ tay và video hướng dẫn danh mục các hoạt động sinh hoạt hàng ngày dành cho người bệnh sau khi xuất viện. Hướng dẫn người nhà hỗ trợ bệnh nhân duy trì thời gian mang dụng cụ cố định tay lành tối thiểu 60 phút mỗi ngày trong các hoạt động ăn uống, vệ sinh cá nhân và dọn dẹp đơn giản.
  • Tối ưu hóa thời điểm can thiệp sớm ngay sau giai đoạn cấp: Các khoa cấp cứu thần kinh và hồi sức tích cực cần thiết lập quy trình hội chẩn liên chuyên khoa để chuyển giao người bệnh sang can thiệp phục hồi chức năng ngay khi các chỉ số sinh tồn ổn định (thường từ ngày thứ 20 sau nhồi máu não), tận dụng tối đa thời gian vàng trong 3 tháng đầu để tái tạo kết nối thần kinh vận động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho nhiều nhóm độc giả trong hệ thống y tế:

  • Bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về công thức huyệt vị kết hợp bài tập vận động bắt buộc, hỗ trợ xây dựng kế hoạch điều trị cá thể hóa cho bệnh nhân liệt nửa người.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành y khoa: Tài liệu tham khảo có giá trị cao về phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng, kỹ thuật lựa chọn cỡ mẫu chuẩn xác và phương pháp lượng giá chức năng vận động bằng các thang điểm chuẩn quốc tế.
  • Kỹ thuật viên vật lý trị liệu và điều dưỡng viên: Nắm bắt quy trình thực hành chi tiết từ bước cố định chi lành, phân bổ thời gian tập luyện từng nhóm cơ bàn tay đến kỹ thuật theo dõi các chỉ số an toàn của người bệnh.
  • Bệnh nhân nhồi máu não và người trực tiếp chăm sóc: Giúp hiểu rõ cơ chế phục hồi chức năng của não bộ, từ đó nâng cao tinh thần kiên trì luyện tập và chủ động phối hợp cùng nhân viên y tế trong các hoạt động tự chăm sóc tại gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật vận động bắt buộc có gây khó chịu hoặc teo cơ bên tay lành hay không?

Dụng cụ cố định tay lành chỉ được sử dụng ngắt quãng trong khoảng thời gian từ 30 đến 60 phút mỗi lần tập luyện dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhân viên y tế. Phương pháp này hoàn toàn không gây cản trở tuần hoàn, không gây đau đớn hay nguy cơ teo cơ cho tay lành vì thời gian bất động ngắn và tay lành vẫn được sử dụng bình thường ngoài giờ tập.

Thời điểm nào thích hợp nhất để bắt đầu áp dụng phác đồ kết hợp này?

Phác đồ đạt hiệu quả tối ưu khi áp dụng cho bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp tính, thông thường từ ngày thứ 20 trở đi kể từ khi khởi phát bệnh. Lúc này các triệu chứng thần kinh đã ổn định, người bệnh tỉnh táo với điểm số nhận thức từ 24 điểm trở lên và không còn tình trạng phù não tiến triển.

Phác đồ điện châm kết hợp bài tập bắt buộc có ưu thế gì so với điện châm đơn thuần?

Sự kết hợp này tạo ra cơ chế tác động kép toàn diện. Trong khi điện châm đóng vai trò kích thích dẫn truyền xung động thần kinh cơ và giảm trương lực cơ cục bộ, bài tập bắt buộc trực tiếp kích hoạt vùng vỏ não tương ứng thông qua các động tác lặp lại, nâng tỷ lệ bệnh nhân phục hồi mức độ tốt lên 14,29% so với 0% ở nhóm điện châm đơn thuần.

Liệu trình điều trị chuẩn của phương pháp kéo dài trong bao lâu?

Một liệu trình can thiệp chuẩn trong nghiên cứu kéo dài 20 ngày liên tục. Mỗi ngày người bệnh được điện châm 30 phút, sau đó nghỉ ngơi 15 phút và tiếp tục thực hiện bài tập vận động bắt buộc tay liệt 30 phút mỗi lần, thực hiện 2 lần mỗi ngày kết hợp với các bài tập vận động tinh của ngón tay.

Người bệnh sau khi xuất viện có thể tự duy trì bài tập này tại nhà không?

Người bệnh hoàn toàn có thể tiếp tục tự luyện tập tại nhà theo sự hướng dẫn chi tiết của bác sĩ trước khi xuất viện. Gia đình có thể sử dụng găng tay vải hoặc bao tay chuyên dụng để cố định tay lành trong khoảng 60 phút mỗi ngày khi thực hiện các công việc tự chăm sóc như cầm cốc nước, cài cúc áo hoặc gắp thức ăn.

Kết luận

  • Nghiên cứu khẳng định tính hiệu quả vượt trội của phác đồ điện châm kết hợp bài tập vận động bắt buộc trong điều trị phục hồi chức năng chi trên cho bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp tính.
  • Tổng tỷ lệ bệnh nhân đạt mức độ phục hồi khá và tốt ở nhóm can thiệp đạt tới 80,95%, cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ 59,52% ở nhóm điều trị điện châm đơn thuần.
  • Sự khéo léo của bàn tay cải thiện ấn tượng khi điểm số thang đo chuyển động tay tăng từ 2,4 lên 4,31 điểm, đồng thời nâng tỷ lệ bệnh nhân đạt mức vận động tay tốt lên 31,0%.
  • Điểm vận động cánh tay theo thang đo Fugl-Meyer đạt mức khá và tốt lên tới 83,3%, khẳng định khả năng tái lập các cử động phối hợp của toàn bộ chi trên bên liệt.
  • Phác đồ điều trị có độ an toàn tuyệt đối, không gây biến cố bất lợi trên lâm sàng và là mô hình mẫu mực cho việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại hóa y học cổ truyền.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa một quy trình điều trị phục hồi chức năng chi trên có căn cứ khoa học vững chắc và khả thi cao trong thực tiễn lâm sàng. Trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tới, các cơ sở y tế cần đẩy mạnh việc ứng dụng phác đồ này vào thực tế điều trị tại giường bệnh. Các bác sĩ và kỹ thuật viên phục hồi chức năng hãy chủ động tham khảo toàn văn nghiên cứu để triển khai giải pháp tối ưu này, giúp người bệnh đột quỵ sớm khôi phục khả năng vận động và tái hòa nhập cộng đồng.