ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là nguyên nhân chính gây ra khuyết tật ở người lớn. Hiện nay tai biến mạch máu não đã và đang là vấn đề thời sự cấp thiết của y học nói chung [26]. Đây là bệnh lý do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, bệnh nhân có thể tử vong nhanh chóng hoặc nếu sống sót sẽ để lại nhiều di chứng nặng nề. Theo Tổ chức y tế thế giới thì di chứng do tai biến mạch máu não thuộc loại đa tàn tật, mà chủ yếu là giảm hoặc mất chức năng vận động kèm theo các rối loạn tri giác, nhận thức, tâm lý [42].
Theo Nguyễn Duy Cường (2014) bệnh nhân sau TBMMN di chứng về vận động chiếm 92% trong đó di chứng nh 34,2%, di chứng nặng 42,6%, tử vong và xin về để tử vong chiếm t lệ khá cao 23,2% [7]. Rối loạn vận động gây ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cũng như khả năng tái hội nhập vào đời sống cộng đồng [26]. Phục hồi chức năng (PHCN) là phương pháp nhằm mục đích giảm thiểu tình trạng khuyết tật của người khuyết tật nói chung và bệnh nhân TBMMN nói riêng [1]. Tuy nhiên vấn đề hiện nay là nhiều bệnh nhân tai biến mạch máu não sau khi xuất viện vẫn gặp tình trạng khuyết tật đáng kể như có thể đi độc lập nhưng chỉ 1 t lệ nhỏ có thể đi với tốc độ và sức bền phù hợp để tham gia vào các hoạt động trong cộng đồng [21],[41].
Các bệnh nhân sau xuất viện báo cáo mức độ hoạt động và tham gia xã hội ở mức thấp. Theo Hill và cộng sự chỉ có 7% sau khi xuất viện đáp ứng các tiêu chí để có thể hoà nhập xã hội [40]. Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu đánh giả hiệu quả phương pháp vật lý trị liệu truyền thống, thường quy như BoBath, tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ của vật lý trị liệu trên khả năng thăng bằng di chuyển ở người tai biến mạch máu não [17], [22], [4]. Tuy nhiên, hiệu quả các phương pháp luyện tập này chỉ được báo cáo mức độ chức năng và cấu 2 trúc như sức mạnh cơ, tầm vận động khớp, trương lực cơ, mức độ hoạt động và sự tham gia xã hội vẫn hạn chế.
Các phương pháp trên đòi hỏi sự trợ giúp rất nhiều từ kỹ thuật viên vật lý trị liệu đối với bệnh nhân như cần luyện tập trực tiếp đề kháng cử động, trợ giúp, nâng đỡ bệnh nhân. Bệnh nhân ít chủ động tham gia vào các hoạt động luyện tập, thậm chí là thụ động lệ thuộc hoàn toàn vào sự luyện tập của kỹ thuật viên đồng thời chưa thể mang lại cho bệnh nhân sự phục hồi cao nhất về khả năng thăng bằng tốc độ, sức bền. Do đó hiệu quả phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân hạn chế. Do vậy rất cần phát triển một phương pháp, một chương trình luyện tập thiết thực hơn vừa trao quyền chủ động luyện tập và sáng tạo cho bệnh nhân.
Chương trình luyện tập xoay vòng được báo cáo có thể đáp ứng được những yêu cầu trên. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của chương trình luyện tập xoay vòng như Dean C (2000), Kim (2016) [29], [32], [43]… tại Việt Nam chưa tìm thấy nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy chúng t i thực hiên nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả và tìm hiểu một số yếu tố liên quan kết quả phục hồi chức năng ở bệnh nhân sau điều trị bệnh Tai biến mạch máu não có di chứng vận động bằng phƣơng pháp luyện tập xoay vòng tại tỉnh Tây Ninh” với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân có di chứng về vận động sau điều trị TBMMN bằng phương pháp luyện tập xoay vòng tại tỉnh Tây Ninh năm 2019-2020.
Đánh giá kết quả và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng ở bệnh nhân ngoại trú bị TBMMN có di chứng về vận động bằng phương pháp luyện tập xoay vòng tại tỉnh Tây Ninh năm 2019- 2020. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ học của tai biến mạch máu não 1. Định nghĩa TBMMN Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Tai biến mạch máu não là dấu hiệu phát triển nhanh trên lâm sàng của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24 giờ thường do nguyên nhân huyết quản.
Như vậy trên lâm sàng đây là những biểu hiện bệnh lý bao gồm phần lớn các trường hợp chảy máu trong não, chảy máu dưới nhện, nhồi máu não và kh ng đề cập đến trường hợp thiếu máu não thỏang qua hoặc bệnh lý mạch máu não lan toả khởi đầu lặng lẽ ” [3], [18]. Phân loại TBMMN Phân loại đột qu não trên lâm sàng và các yếu tố nguy cơ [19], [3]. TBMMN gồm hai loại: Nhồi máu não và xuất huyết não - Nhồi máu não: Chiếm 75-80% số bệnh nhân đột qu não, gồm có: huyết khối động mạch não, tắc mạch não và hội chứng l khuyết. Cục máu đ ng hình thành tại ch của động mạch não, thường tắc do xơ vỡ động mạch (ch ng hạn xuất phát từ động mạch cảnh), huyết tắc do bệnh tim (thí dụ rung nhĩ, nhồi máu cơ tim, bệnh van tim).
t gặp hơn: giảm huyết áp (tụt huyết áp đột ngột hơn 40 mm Hg), viêm động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc xoang tĩnh mạch, tiền căn thiếu máu cục bộ thoáng qua, tăng thể tích hồng cầu, phụ nữ vừa hút thuốc lá vừa dùng thuốc tránh thai nội tiết tố, tăng chất béo trong máu. Xuất huyết não: Chiếm 20-25% số bệnh nhân đột qu não, gồm có chảy máu trong não, chảy máu não thất và chảy máu dưới nhện. Xuất huyết do vỡ mạch não: tăng huyết áp, chấn thương, vỡ phình động mạch não; Ở người tr : bệnh tiểu cầu, chảy máu dưới màng nhện, dị 4 dạng động mạch cảnh, lạm dụng thức uống có cồn (rượu, bia), rối loạn chức năng đ ng máu. Tình hình TBMMN trên thế giới và Việt Nam 1.
Trên thế iới Tai biến mạch máu não được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên toàn thế giới với t lệ tử vong hàng năm khoảng 5,5 triệu người. Gánh nặng của TBMMN kh ng chỉ nằm ở t lệ tử vong cao mà t lệ mắc bệnh cao còn khiến 50% số người sống sót bị tàn tật mãn tính [42]. Ở các nước phát triển và đang phát triển, bệnh nhân đột qu não khá phổ biến, có chiều hướng gia tăng và tr hóa [54]. Theo báo cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) tại Hoa kỳ có khoảng 4,7 triệu bệnh nhân TBMMN và 780 nghìn bệnh nhân mới mắc hoặc tái phát trong năm đầu [26], [28].
Ở châu Âu, cứ 100 nghìn dân có 141 - 219 người mắc đột qu não lần đầu, trong đó nhồi máu não là 105,7. Ở châu Phi nghiên cứu của Connor trên bệnh nhân đột qu não trên 50 tuổi chiếm 81,3%. Nghiên cứu của Zhang Y và cộng sự cho biết t lệ hiện mắc, mới mắc và tử vong ở một số quốc gia Đức, , Tây Ban Nha, Pháp và Anh như sau [34]: - : cỡ mẫu 123.748 t lệ mới mắc là 350 100.000 dân, t lệ hiện mắc là 147 100.000 dân và tử vong là 41 - 68 100. - Tây Ban Nha: cỡ mẫu nghiên cứu là 201.205, t lệ mới mắc là 141 100.000 dân, t lệ tử vong là 38 100.
- Nghiên cứu khác tại Anh Quốc của Lee và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 32.151 bệnh nhân đột qu não lần đầu cho thấy t lệ mắc đột qu não giảm 30% từ 148 100.000 dân vào năm 2008, t lệ tử vong giảm 10%, ngược lại t lệ hiện mắc tăng 12,5%. 5 Tại Trung Quốc, nước có dân số lớn nhất thế giới được hai tác giả Kay và Wong thuộc trường Đại học Hồng K ng điều tra dịch tễ ở sáu thành phố lớn, kết quả: t lệ mới mắc trung bình 219 100. Các tỉnh phía Đ ng- Bắc t lệ cao hơn (441 100.000 dân), trong khi các tỉnh phía Nam thấp hơn nhiều (136 100.000 dân), tại Bắc Kinh Trung Quốc t lệ mới mắc đột qu não 329 100.000 dân, tại Quảng Châu là 147 100. Nghiên cứu của Venketasubramanian RN tại Bệnh viện Tan Tock Seng Xin-ga-po về tính chất dịch tễ đột qu não tại các quốc gia Đ ng Nam Á cho thấy đột qu não là một trong bốn nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của các nước Đ ng Nam Á (ASEAN).
Tại Thái Lan là 10,9 100.000 dân, Xin-ga-po 54,2 100.000 dân, Brunei là 74 100.000 dân và Philipin là 112 100. T lệ tàn tật do TBMMN ở Nga, Bulgari, Trung Quốc cao hơn so với ở Pháp, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ và t lệ tử vong trong vòng 30 ngày đầu sau khởi phát đột qu não thấp nhất ở Bắc Âu, Đức, Thụy Điển [56]. Mục tiêu của Hội Đột qu não quốc tế phấn đấu đến năm 2025 phải đạt được các nội dung [18]: - Giảm t lệ tử vong trong tháng đầu do đột qu não xuống dưới 20%. - Giảm t lệ tái phát trong năm đầu xuống dưới 20%.
- Giảm t lệ tử vong chung do đột qu não xuống dưới 40%. Năm 2013 Hong và cộng sự nghiên cứu tính chất dịch tễ đột qu não tại Hàn Quốc hàng năm có khoảng 105,000 người bị lần đầu hoặc tái phát và tử vong khoảng 26,000 người. Tại Việt Nam Việt Nam là một trong các quốc gia Đ ng Nam Á có t lệ TBMMN gia tăng song hành với các chứng bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh lý tim mạch và ung thư. Theo báo cáo của "Hội phòng chống tai biến 6 mạch máu não Việt Nam", năm 2015 Việt Nam có 225.000 bệnh nhân mới mắc, số bệnh nhân đang sống là 540.720 người, hàng năm tử vong khoảng 117.900 người, ba phần tư số bệnh nhân tuổi từ 65 trở lên.
Cứ tăng thêm 10 tuổi thì nguy cơ đột qu não tăng lên gấp hai lần [11], [36]. Những năm gần đây các chuyên gia y tế trong nước và thế giới đều nhận xét Việt Nam là quốc gia có t lệ bệnh nhân TBMMN tăng nhanh cả về số lượng và tr hóa [13], [23]. Các tác giả cũng quan tâm đặc biệt đến các yếu tố nguy cơ như là những nguyên nhân gây bệnh: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, bệnh lý tim mạch, vữa xơ mạch, thói quen ăn mặn, hút thuốc lá, uống rượu bia.