Chương 1 điều 3 khoản 6 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014: “ Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường” [2]. Quản lý môi trường và phòng chống ô nhiễm: “Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”. Các khái niệm chất thải rắn: - Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và sự duy trì tồn tại của cộng đồng). - Chất thải rắn sinh hoạt: chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng.
- Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói lưu trữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. - Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. - Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kĩ thuật làm giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi tái chế tái sử dụng lại các thành phần có ích.
- Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kĩ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.2 Cơ sở pháp lý - Căn cứ luật bảo vệ môi trường 2014 được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 13 kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015 - Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật bảo vệ môi trường. - Nghị định 59/2007/ NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lí chất thải rắn. - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. - Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/03/2005 của Bộ Y tế về việc ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.
- Căn cứ quyết định số 17/2001/QĐ – BXD ngày 07/08/2001 của xây dựng định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường – công tác thu gom vận chuyển, xử lý rác. - Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc áp dụng TCVN về môi trường. - Quy định số 367-BVTV/QĐ về việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam. - Căn cứ quyết định số 366/QĐ-TT ngày 31 tháng 03 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường trong nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2012 – 2015.2 Thực trạng về môi trƣờng nông thôn trên thế giới và Việt Nam 2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới Ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề bức xúc mà còn là vấn đề đáng lo ngại hiện nay, nó không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả trên Thế giới.
Hàng năm trên thế giới phải chịu nhiều thiệt hại về người và của do ô nhiễm môi trường gây ra. Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức của con người chưa cao trong vấn đề bảo vệ môi trường. Cùng với đó là sự gia tăng dân số dẫn đến nhiều chất thải sinh hoạt thải ra môi trường sống. Quá trình đô thị hóa cũng là một trong những nguyên nhân gây n 7 ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Được biết hàng ngày, môi trường sống của chúng ta phải tiếp nhận hàng trăm nghìn tấn rác, chất thải, khí thải từ các ngôi nhà hay những công ty, xí nghiệp, khu chế xuất… Ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra ở thành thị, mà còn xảy ra ở nông thôn. Ở mỗi nơi, mỗi địa phương có những nguyên nhân khác nhau, nhưng chung quy lại đều do sự chủ quan, thiếu ý thức của mọi người. Nếu như ở thành thị ô nhiễm môi trường xuất phát từ các chất thải của các khu công nghiệp, khu chế xuất, thì ở nông thôn lại xuất phát từ ý thức của người dân chưa cao: phóng uế, vứt rác, xác động vật bừa bãi…Phần lớn ô nhiễm môi trường tại các thành thị đều do chưa có hệ thống xử lý chất thải hợp lý. Còn ở nông thôn nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường phần lớn do các chất thải của con người và gia súc không được xử lý, hay xử lý chưa thích hợp.
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn chịu nhiều ảnh hưởng bởi những hóa chất, thuốc trừ sâu từ việc phun, xịt của người nông dân. Theo Lê Thạc Cán (1995) [4]. Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình môi trường trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên có những đặc điểm sau: - Tăng trưởng dân số nhanh: dân số thế giới đã lên tới 5,769 tỷ người và sẽ tiếp tục tăng 8,5 tỷ người trong 3 thập kỷ tới. Sau năm 2025, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lên tới 10 tỷ vào năm 2050.
- Suy giảm tài nguyên đất: hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân số và suy giảm tài nguyên đất. - Đô thị hóa mạnh mẽ: dân số đô thị tăng lên nhanh chóng với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 – 5% cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Dự báo đến 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50% dân số sống ở các đô thị và tại các nước phát triển tỷ lệ này là 75%. - Hình thành các siêu đô thị: xu thế ðô thị hóa này sẽ dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị với dân số trên 4 triệu người.
Sự hình thành các siêu đô thị tại tất cả các nước đều gây nên những khó khăn và phức tạp về chất lượng môi trường sống: ô nhiễm do công nghiệp, giao thông vận tải, vấn đề rác thải. n 8 - Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn: sự mất cân đối này diễn ra qua việc dân nông thôn di cư một cách vô tổ chức tới các đô thị. Với xu thế này sự phân bố dân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng, đô thị thì ngày càng căng thẳng về chất lượng môi trường, nông thôn do thiếu lực lượng lao động trẻ, khỏe, công tác phục hồi suy thoái vì vậy sẽ gặp nhiều khó khăn. - Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều: sự không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất giữa các quốc gia ngày càng tăng.
Do sụ phân bố không đồng đều đó đã tạo nên một áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên thiên nhiên. - Nhu cầu về lương thực tăng nhanh. - Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kỳ suy giảm. - Gia tăng sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu: Nhìn chung trên toàn thế giới, lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng lên theo cấp số nhân.
- Gia tăng sa mạc hóa. - Suy giảm sản lượng thủy sản. - Tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ dầu khí. - Gỗ củi tiếp tục bị cạn kiệt nhanh chóng.
- Chất lượng khí quyển tiếp tục bị suy thoái. - Rác thải rắn cũng tăng lên: Viện Blacksmith, một tổ chức nghiên cứu môi trường quốc tế có trụ sở tại NewYork (Mỹ), công bố danh sách 10 thành phố thuộc 8 nước được coi là ô nhiễm nhất thế giới năm 2006. Đó là các nước: Nga, Trung Quốc, Zambia, Cộng hòa Domica, Ấn Độ, Ukraine, Peru, Kyrgzstan. Tại các thành phố này, hơn 10 triệu người có nguy cơ bị nhiễm trùng, ung thư phổi và giảm tuổi thọ.
Trẻ em bị lở loét do ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm môi trường.2 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn do Bộ y tế và UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho thấy VSMT và vệ sinh n 9 cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6% trạm y tế xã, 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ y tế (Quyết định 08/2005/ QĐ – BYT) [7]. Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp, 7,8% khu chợ nông thôn, 11,7% dân cư nông thôn, 14,2% trạm y tế xã, 16,1% UBND xã, 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy. Ngoài ra, kiến thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn hạn chế, thái độ của người dân còn hoang mang về vấn đề này. Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến hệ sinh thái nông nghiệp và nông thôn.
Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần môi trường, giảm năng suất cây trồng và vật nuôi, cản trở sự phát triển bền vững. Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng nông thôn và hậu quả là lâu dài, không những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau. Vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường: Vấn đề này phải kể đến hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và VSMT nông thôn.