Đặt vấn đề Mỗi chúng ta đều nhận thức được, nước là tài sản chung của nhân loại, là một trong bốn nhân tố tạo nên môi trường, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự sống của con người và sinh vật. Không có nước thì sự sống của muôn loại trên hành tinh không thể tồn tại được. Con người khai thác từ các nguồn từ các nguồn tự nhiên và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như phục vụ ăn uống sinh hoạt của chính con người, nước dùng cho các mục đích hoạt động nông nghiệp, cho sản xuất, cho sản xuất công nghiệp, cho các hoạt động giao thông, cho rất nhiều các hình thức dịch vụ. Nước sử dụng cho những mục đích trên lại được thải lại vào chính nguồn nước nơi mà con người đã khai thác cho mục đích sử dụng của mình.
Tất cả những hoạt động đó do thiếu quản lý hay hiểu biết đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ở nhiều lúc, nhiều nơi đã trở nên trầm trọng. Việc ô nhiễm nguồn nước sạch đã ảnh hưởng trực tiếp đời sông và sức khỏe của các dân tộc, cả hiện tại và tương lai. Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm nước do nguồn nước có xu hướng gia tăng, đặc biệt là những khu công nghiệp, công ty, xí nghiệp. Ô nhiễm nguồn nước không những ảnh hưởng tới chất lượng sống của người dân xung quanh mà còn ẩn chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm đến sức khỏe con người.
Công ty cổ phần xi măng La Hiên thành lập cách đây gần 23 năm. Công tác quản lý từng bước được hoàn thiện phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty và cơ chế đổi mới của nhà nước, công ty được cấp chứng chỉ hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Để đạt được các tiêu chuẩn trên cũng như dần nâng cao sản phẩm thì sự hoạt động của công ty cũng có ảnh hưởng xấu đến môi trường trong đó có môi trường nước. Trước khi xả thải ra môi trường thì nồng độ các chất thải trong nước vượt qúa tiêu chuẩn cho pháp h 2 nên trước khi xả thải ra môi trường công ty đã phải dùng dây chuyền làm sạch nước sao cho đủ tiêu chuẩn cho phép để thải ra môi trường.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí khoa Quản lý tài nguyên, trường ĐH Nông Lâm và Công ty cổ phần EJC Thái Nguyên , dưới sự hướng dẫn của cô giáo T.S Trần Thị Phả, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:“Đánh giá chất lượng nước thải của công ty cổ phần xi măng La Hiên VVMI”. Mục tiêu của đề tài Khái quát chung về Công ty cổ phần xi măng La Hiên VVMI Đánh giá chất lượng nước thải của Công ty cổ phần xi măng La Hiên VVMI Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước Đề xuất biện pháp phòng ngừa ô nhiễm nguồn nước 1. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học : Giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với cách thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, vận dụng được kiến thức đã học vào thực tiễn và rèn luyện kĩ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn : + Tăng cường trách nhiệm của ban lãnh đạo công ty trước hoạt động sản xuất đến môi trường, từ đó có hoạt động tích cực trong việc xử lý nước thải + Cảnh báo nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường nước thải gây ra, ngăn ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng của nước thải đến môi trường , bảo về sức khỏe của người dân khu vực quanh công ty h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm về môi trường: Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý. Môi trường được định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam số:55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014:” Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Khái niệm về ô nhiễm môi trường Cũng căn cứ vào Luật bảo vệ môi trường Việt Nam số:55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014:Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.[1] Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây ra nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã [2] Khái niệm đánh giá chất lượng nước Theo Escap(1994) chất lượng nước được đánh giá bởi các thông số, chỉ tiêu đó là: - Các thông số lý học ví dụ như: + Nhiệt độ: nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hóa diễn ra trong nguồn nước tự nhiên.sự thay đổi về nhiệt kéo theo thay đổi chất lượng nước, tốc độ, dạng phân hủy của các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan. + pH: là chỉ số thể hiện độ axit hay bazo của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển vi sinh vật trong h 4 nước.Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá trình đông tụ hóa học, sát trùng làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn.
- Các thông số hóa học như: + BOD: là lượng oxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện chuẩn về nhiệt độ và thời gian. + COD: là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước. + NO2: là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất có chứa Nito trong nước thải. + Các yếu tố kim loại nặng: các kim loại nặng là những yếu tố mà tỉ trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5: Asen, Cadimi, Fe, Mn,.
ở hàm lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sự sinh trưởng của động, thực vật nhưng khi hàm lượng tăng thì chúng sẽ thành độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn. - Các thông số sinh học: + Colifom là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm về mặt sinh học của nguồn nước Khái niệm về nước thải: Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và IOS 6107/1-1980: “Nước thải là nước đã được thải ra sau khi sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.[11] Khái niệm nước thải Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [12] Khái niệm nước thải công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như nước thải tiến hành cho vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhân viên. Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần h 5 cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố:loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên [3].2 Tài nguyên nước và vai trò của nước đối với đời sống và phát triển kinh tế-xã hội Nước là một dạng tài nguyên đặc biệt, là một trong các nhân tố quyết định sự sống trên trái đất. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại emepdocles(490-430 TCN) cho rằng có bốn yếu tố khởi nguyên cấu tạo nên mọi vật là khí trời, nước, lửa và đất.
Các nền văn minh lớn của nhân loại cũng đều nảy nở ở trên các dòng sông lớn-Văn minh Lưỡng Hà ở Tây á, văn minh Hoàng Hà ở trung quốc, văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil, văn minh soong Hằng ở Ấn Độ, văn minh sông Hồng ở Việt Nam…Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2000 lít cho nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và khoảng 70% trọng lượng cơ thể của con người. Lượng nước con người sử dung trong 1 năm khoảng 35000km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động công nghiệp Đối với sự sống của con người và thiên nhiên, nước tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống.
Phần lớn các phản ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể đều có dung môi là nước. Nhờ có tính chất này mà nước trở thành tác nhân mang sự sống đến cho trái đất. Đối với cơ thể sống, thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thể sống được vài tuần, còn thiếu nước con người không thể sống được trong vài ngày. Nhu cầu sinh lý của con người một ngày cần 1, 83 lít nước vào cơ thể và có thể nhiều hơn tùy theo cường độ lao động và tính chất của môi trường xung quanh.
h 6 Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước, 1 tấn chất bột cần 1000 tấn nước…Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi ngành công nghiệp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau. Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đặc biệt là sinh vật trên hành tinh này sẽ ngừng hoạt động và không tồn tại. Trong sản xuất nông nghiệp, dân gian ta có câu”Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy tầm quan trọng hàng đầu của nước trong nông nghiệp. Theo FAO, tưới nước và phân bón là 2 yếu tố quyết định hàng đầu, là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất, làm cho tốc độ sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới.