MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta đang tích cực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội và nâng cao thu nhập cho người lao động. Việc phát triển ngày càng mạnh các ngành công nghiệp đi đôi với khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ các hoạt động công nghiệp ngày càng nhiều. Chính điều này đã tạo nên mâu thuẫn giữa phát triển Kinh tế xã hội và Bảo vệ môi trường tự nhiên.
Việc khai thác tài nguyên quá mức làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường… Vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên hiện nay đang là mối quan tâm lớn của tỉnh Bắc Ninh. Làm thế nào để kết hợp việc khai thác tài nguyên thiên nhiên với việc cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên, nghiên cứu các biện pháp sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường nhằm phục vụ cho việc phát triển lâu dài của con người là những vấn đề bức xúc đang đặt ra cho các nhà quản lý cũng như các nhà khoa học để giải quyết. Đó là tiền đề cho việc xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững, vạch ra những kế hoạch, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay, các dự án Khu công nghiệp (KCN), Cụm công nghiệp (CCN) bắt buộc phải cam kết thực hiện công tác quản lý bảo vệ môi trường theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại, nước thải công nghiệp.
Tính đến nay, tỉnh Bắc Ninh hiện nay có 15 khu công nghiệp (KCN) tập trung, 1 khu công nghệ thông tin, và hơn 30 cụm công nghiệp (CCN). Trong đó, huyện Tiên Du có Cụm công nghiệp Phú Lâm nằm ở xóm Hạ Giang của thôn Tam Tảo. Hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp là tái chế giấy và tính đến đầu năm 2010 có khoảng 20 doanh nghiệp cùng sản xuất trong Cụm n 2 doanh nghiệp này. Ảnh hưởng từ sự phát triển mạnh mẽ của cụm công nghiệp Phú Lâm nhưng do chưa chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường nên sự ô nhiễm môi trường tại Cụm công nghiệp Phú Lâm đã đến mức báo động.
Nước thải và khói bụi từ các doanh nghiệp làm giấy trong cụm công nghiệp được xả thải và phát tán tự do ra môi trường mà không qua xử lý khiến cho tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Đặc biệt là việc sông Ngũ Huyện Khê bị “đầu độc” một cách công khai bởi nước thải độc hại từ các nhà máy, xí nghiệp thuộc các doanh nghiệp gây ảnh hưởng đến môi trường và cảnh quan của địa phương. Trước tình trạng đó, các cấp, các ngành đã có nhiều biện pháp để xử lý, khắc phục, tuy nhiên cũng mới chỉ dừng lại ở quy mô từng cơ sở nhỏ lẻ mà chưa có giải pháp tổng thể. Mặt khác cho đến nay, chưa có đề tài, dự án nào nghiên cứu chi tiết, tổng hợp về hiện trạng các nguồn xả thải và đánh giá khả năng chịu tải của sông Ngũ Huyện Khê nơi tiếp nhận nước thải… Vì vậy, việc đầu tư cải tạo hệ thống thoát nước và xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung là mong mỏi của ban quản lý CCN Phú Lâm, chính quyền địa phương cũng như người dân nơi đây.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước thải Cụm công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”. Mục đích đề tài - Tìm hiểu tổng quan về cụm công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. - Hiện trạng công tác quản lý môi trường của cụm công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. - Đánh giá hiện trạng nước thải cụm công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh.
n 3 - Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt khu vực cụm công nghiệp Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. - Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do nước thải của cụm công nghiệp. Yêu cầu - Số liệu thu thập phản ánh trung thực khách quan. - Kết quả phân tích phải chính xác.
- Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực tế của địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa học tập: Nâng cao kiến thức và kỹ năng rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ công tác bảo vệ môi trường; vận dụng, phát huy và nâng cao kiến thức đã học. - Ý nghĩa thực tiễn: Tìm hiểu được thực trạng nước thải của cụm công nghiệp Phú Lâm. Từ dó đưa ra những biện pháp khắc phục có hiệu quả để bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.Cơ sở lý luận - Một số khái niệm về môi trường Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” (Paper JAAPU) [14]. Theo "Luật Bảo vệ môi trường" của nước CHXHCN Việt Nam thì môi trường được khái niệm như sau: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ” (Luật bảo vệ môi trường, 2014) [6]. - Khái niệm về tài nguyên nƣớc: Là một dạng tài nguyên thiên nhiên vừa hữu hạn vừa vô hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng yêu cầu của cuộc sống như ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, du lịch.
- Khái niệm nƣớc mặt: Là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo. - Khái niệm nƣớc ngầm: Là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất (Dư Ngọc Thành, 2007) [7]. - Ô nhiễm môi trƣờng : là sự tích lũy trong môi trường các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường khiến cho môi trường trở lên độc hại đối với con người và sinh vật (Lê Văn Thiện, 2007) [8]. - Khái niệm về suy thoái ô nhiễm nguồn nƣớc: Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật (Lê Văn Thiện, 2007) [8].
n 5 Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại ( Paper JAAPU ) [14]. - Các dạng ô nhiễm nƣớc: Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước. Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt. Hoặc dựa vào môi trường nước như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương.
Hoặc dựa vào tính chất của ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý (Lê Văn Thiện, 2007) [8]. - Quản lý môi trƣờng và phòng chống ô nhiễm:“Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kĩ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên” (Nguyễn Thị Thanh Nga, 2014) [5]. Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: Luật pháp, chính sách, kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hoá, giáo dục… Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra. Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình… Nguồn nước bị ô nhiễm có dấu hiệu đặc trưng sau đây: + Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn.
+ Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ …) + Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các chất độc hại …) + Lượng ôxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào. n 6 + Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng, có xuất hiện các vi trùng gây bệnh. Các thông số đánh giá chất lượng nước thải: * Nhiệt độ : Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hóa diễn ra trong nguồn nước tự nhiên. Sự thay đổi về nhiệt kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, các nồng độ oxy hòa tan.
* Độ pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazo của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước. * BOD (Biochemical Oxygen Demand – Nhu cầu oxy hóa sinh hóa): Là lượng oxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian. * COD (Nhu cầu oxy hóa hóa học): Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất hóa học trong nước. * NO3: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất có chứa Nito trong nước thải.
* Các yếu tố kim loại nặng: Các kim loại nặng là những yếu tố mà tỷ trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, Cadimi, Fe, Mn.ở hàm lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động thực vật nhưng khi hàm lượng tăng thì chúng trở nên độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn. * Coliform: là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường. -Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) là chất rắn trong nước có thể loại bỏ bởi bộ lọc. Chất rắn lơ lửng có thể xuất phát từ bùn, thực vật và động vật mục nát, chất thải công nghiệp và nước thải.
Nồng độ cao của chất rắn lơ lửng có thể gây ra vấn đề tắc nghén tại hệ xử lý làm hỏng thiết bị.