Luận văn đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước nuôi trồng thủy sản tại hợp tác xã thủy sản hồ núi cốc tỉnh thái nguyên năm 2018

Luận văn đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước nuôi trồng thủy sản tại HTX Thủy sản Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên năm 2018.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tác giả

Lưu Thị Thùy

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.3. Yêu cầu của đề tài

1.4. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Cơ sở pháp lí

2.3. Các khái niệm liên quan

2.4. Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Sơ lược về Hợp tác xã thủy sản Hồ Núi Cốc - Thái Nguyên

3.2. Vị trí địa lý

3.3. Thông tin chung về Hợp tác xã thủy sản Hồ Núi Cốc

3.4. Đánh giá hiện trạng môi trường nước nuôi trồng thủy sản tại Hợp tác xã thủy sản Hồ Núi Cốc

3.4.1. Đánh giá hiện trạng môi trường nước hồ nguồn

3.4.2. Đánh giá hiện trạng nước hồ nuôi trồng thủy sản

3.4.3. Biểu đồ so sánh một số chỉ tiêu đã phân tích qua ba tháng tại HTX

3.4.4. Nguyên nhân gây ảnh hưởng về chất lượng nước nuôi trồng thủy sản tại HTX

3.4.4.1. Nguyên nhân do mưa, lượng mưa hàng tháng, nước chảy tràn vào hồ nuôi cá
3.4.4.2. Nguyên nhân do thức ăn chăn nuôi
3.4.4.3. Nguyên nhân do chất thải phát sinh trong hồ
3.4.4.4. Các nguyên nhân khác

3.5. Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu các tác động xấu từ hoạt động NTTS

3.5.1. Giải pháp quản lí, chính sách

3.5.2. Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học

3.5.3. Sử dụng hợp lí các loại thức ăn và hóa chất

3.5.4. Xử dụng chế phẩm EM trong xử lí nước hồ nuôi

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI HỢP TÁC XÃ THỦY SẢN HỒ NÚI CỐC

Tóm tắt

I. Chất lượng môi trường nước

Chất lượng môi trường nước là yếu tố quan trọng trong nuôi trồng thủy sản tại Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên. Nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu như pH, DO, BOD, COD, TSS, và NO3- để xác định mức độ ô nhiễm. Kết quả cho thấy, một số chỉ tiêu vượt quá giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT, đặc biệt là nồng độ BOD và COD. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thủy sản và hiệu quả nuôi trồng.

1.1. Đánh giá chỉ tiêu hóa lý

Các chỉ tiêu hóa lý như pH, DO, và nhiệt độ được đo đạc định kỳ. Kết quả cho thấy pH dao động từ 6.5 đến 8.5, phù hợp với tiêu chuẩn. Tuy nhiên, DO có lúc xuống thấp dưới 4 mg/L, gây thiếu oxy cho thủy sản. Nhiệt độ nước biến động theo mùa, cao nhất vào mùa hè (28-30°C), thấp nhất vào mùa đông (18-20°C).

1.2. Đánh giá chỉ tiêu sinh học

Các chỉ tiêu sinh học như BODCOD được phân tích để đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ. Kết quả cho thấy BOD trung bình là 15 mg/L, vượt quá giới hạn cho phép (10 mg/L). COD cũng ở mức cao (25 mg/L), cho thấy sự tích tụ chất hữu cơ trong nước.

II. Nuôi trồng thủy sản tại Hồ Núi Cốc

Nuôi trồng thủy sản tại Hồ Núi Cốc là hoạt động kinh tế chính của địa phương. Nghiên cứu tập trung vào các mô hình nuôi cá lồng bè và tác động của chúng đến môi trường nước. Kết quả cho thấy, việc sử dụng thức ăn và hóa chất không kiểm soát là nguyên nhân chính gây ô nhiễm. Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng chế phẩm sinh học để giảm thiểu tác động.

2.1. Mô hình nuôi cá lồng bè

Mô hình nuôi cá lồng bè chiếm 70% diện tích mặt nước. Các loài cá chính được nuôi là cá trắm, cá chép, và cá rô phi. Tuy nhiên, việc thả cá với mật độ cao dẫn đến tích tụ chất thải, gây ô nhiễm nguồn nước.

2.2. Tác động của thức ăn và hóa chất

Thức ăn dư thừa và hóa chất sử dụng trong nuôi trồng là nguồn gây ô nhiễm chính. Kết quả phân tích cho thấy, nồng độ NO3-PO43- trong nước cao, gây hiện tượng phú dưỡng.

III. Đánh giá môi trường nước nuôi trồng

Đánh giá môi trường nước nuôi trồng tại Hồ Núi Cốc cho thấy, chất lượng nước suy giảm đáng kể so với năm 2017. Nguyên nhân chính là do hoạt động nuôi trồng thủy sản và xả thải từ các khu vực lân cận. Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý nước thải để cải thiện chất lượng nước.

3.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm

Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm bao gồm: xả thải từ hoạt động nuôi trồng, nước mưa chảy tràn, và chất thải từ các khu dân cư. Kết quả phân tích cho thấy, nồng độ BODCOD tăng cao vào mùa mưa.

3.2. Giải pháp cải thiện

Đề xuất các giải pháp như: sử dụng chế phẩm sinh học, quản lý chặt chẽ việc sử dụng thức ăn và hóa chất, và xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.

IV. Thực trạng và giải pháp

Thực trạng môi trường nước tại Hồ Núi Cốc năm 2018 cho thấy, chất lượng nước đang ở mức báo động. Các giải pháp được đề xuất bao gồm: tăng cường giám sát, nâng cao nhận thức cộng đồng, và áp dụng công nghệ xử lý nước tiên tiến. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành thủy sản.

4.1. Giám sát và quản lý

Cần tăng cường giám sát chất lượng nước định kỳ và quản lý chặt chẽ hoạt động nuôi trồng. Đề xuất sử dụng hệ thống quan trắc tự động để theo dõi các chỉ tiêu môi trường.

4.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Tổ chức các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường nước. Khuyến khích sử dụng các biện pháp nuôi trồng thân thiện với môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước nuôi trồng thủy sản tại hợp tác xã thủy sản hồ núi cốc tỉnh thái nguyên năm 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1) xác định: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. h 7 - Theo khoản 8 điều 3 luật BVMT Việt Nam năm 2014 “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật” [8]. Ô nhiễm nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.[4] - Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.”[8] - Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2014: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.”[8] - Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm. bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất độc hại như chất có trong thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp chưa được xử lý,.

tất cả có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép. Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông suối kênh rạch, ao, hồ, đầm, phá, biển các tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng tuyết và các dạng tích tụ nước khác. Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và h 8 gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".

- Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lí, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật cho phép gây ảnh hưởng đến con người và sinh vật.[20] - Theo FAO (2008) thì nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trongmôi trường nước ngọt, lợ và mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật và quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất, thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. NTTS là bất kỳ phương tiện gì của con người nhằm cải thiện tăng trưởng của một thủy sinh vật nào đó trong một diện tích mặt nước nhất định. NTTS là một hay nhiều sự tác động của con người nhằm can thiệp vào chu trình sống tự nhiên của một loài thủy sinh. Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản là một trong những yếu tố rất được quan tâm vì những động thực vật thủy sinh đuợc trữ hay nuôi sẽ chậm lớn hay bệnh, chết nếu chất lượng nước không được bảo đảm thích hợp.

Những tính chất vật lý, thành phần hóa học trong nước - môi trường sống của thủy sinh vật. Thông qua các chỉ tiêu về chất lượng nước, ta có thể đánh giá môi trường đó tốt hay xấu, nghèo hay giàu dinh dưỡng, từ đó có những biện pháp quản lý thích hợp để phòng chống dịch bệnh và nâng cao năng suất vật nuôi. Ngoài ra các yếu tố về chất lượng nước là cơ sở khoa học để quy hoạch và phát triển nuôi thủy sản ở những vùng nhất định. Chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản được đánh giá qua 3 tác nhân cơ bản: a) Tác nhân lý hóa - Màu sắc: Nước tự nhiên sạch thường trong suốt và không màu, cho phép mặt trời chiếu xuống tầng nước sâu.

Khi nước chứa nhiều chất rắn lơ lửng, các loại tảo, các chất hữu cơ, đặc biệt sự có mặt của các hệ keo thường h 9 làm cho nước có màu, nó trở nên kém thấu quang với ánh sáng mặt trời. Các sinh vật sống ở đáy hoặc độ sâu thường bị thiếu ánh sáng mặt trời. Các chất rắn ở môi trường nước làm cho các sinh vật hoạt động trở nên khó khăn hơn, một số trường hợp có thể gây tử vong cho sinh vật. Chất lượng nước suy giảm làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của con người.[6] - Mùi vị: Nước tự nhiên sạch không có mùi hoặc có mùi dễ chịu.

Khi trong nước có các sản phẩm phân hủy chất hữu cơ, chất thải công nghiệp, các kim loại thì mùi vị trở nên khó chịu. Các chất gây mùi trong nước được chia làm 3 nhóm: + Các chất gây mùi có nguồn gốc vô cơ như mùi clo, mùi trứng thối do mùi H2S. + Các chất gây mùi có nguồn gốc hữu cơ như trong chất thải nông nghiệp, dầu mỡ, thuốc bảo vệ thực vật. + Các chất gây mùi từ quá trình sinh hóa, các hoạt động vi khuẩn, rong tảo.

- Độ đục: Nước tự nhiên sạch thường không chứa các chất rắn lơ lửng nên trong suốt và không màu. Do chứa các hạt sét và mùn, vi sinh vật, hạt bụi, các hóa chất kết tủa thì nước trở nên đục. Nước đục ngăn cản quá trình chiếu sáng của ánh sáng mặt trời. Các chất rắn ngăn cản các hoạt động bình thường của con người và sinh vật khác.

Độ đục cao biểu thị nồng độ nhiễm bẩn trong nước cao. Ảnh hưởng đến quá trình lọc vì các lỗ hổng sẽ bị bịt kín. - Nhiệt độ: Là yếu tố quan trọng trong hoạt động NTTS biểu thị trạng thái nhiệt của nước. Thường trong hồ nuôi nhiệt được cung cấp từ các nguồn: bức xạ nhiệt của mặt trời, sự tỏa nhiệt từ mặt đất, nhiệt sinh ra từ các phản ứng hóa học và chất hữu cơ trong nước và nền đáy hồ.

Nhiệt độ nước trong hồ nuôi biến động theo mùa, ngày đêm, thời tiết (nóng hay lạnh, có mưa hay không có mưa,…). Nhiệt độ nước trong một ngày đêm ở các hồ nuôi thấp nhất vào buổi sáng (2h -5h) và cao nhất vào buổi chiều (14h-16h), vào lúc 10h h 10 nhiệt độ nước trong hồ gần tới nhiệt độ nước trung bình ngày đêm. Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết của lưu vực hoặc môi trường khu vực. Nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải của nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện hạt nhân thường có nhiệt độ cao hơn nước tự nhiên trong khu vực.

Chất thải làm tăng nhiệt độ môi trường nước làm cho quá trình sinh, lý, hóa của môi trường nước bị thay đổi, dẫn tới một số loài sinh vật không chịu đựng được sẽ chết hoặc di chuyển đến nơi khác, một số còn lại phát triển mạnh mẽ.[6] - Chất rắn: Bao gồm có chất rắn lơ lửng và chất rắn hòa tan là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ, có kich thước bé, rất khó lắng trong nước như khoáng sét, bụi than, bùn… Sự có mặt của chất rắn trong nước gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác. - Độ cứng: Gây ra độ cứng của nước là trong nước có chứa các muối Ca và Mg vĩnh cửu. - Độ đẫn điện: Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước như: NaCl, KCl,. - Độ pH: Độ pH ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các sinh vật trong nước.

Cá thường không sống được trong nước khi có độ pH<4 hoặc pH>10. - Nồng độ oxi tự do trong nước: Oxi tự do trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước. Hàm lượng oxi có trong nước thường là do sự hòa tan của khí quyển hoặc do sự quang hợp của tảo. Nồng độ oxi tự do trong nước nằm trong khoảng 8-10 ppm và dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy các chất, sự quang hợp của tảo,… Khi nồng độ oxi tự do trong nước thấp se làm giảm sự hoạt động của các sinh vật trong nước nhiều khi dẫn đến chết.

Do vậy, nồng độ oxi tự do trong nước là một chỉ số quan trọng đánh giá sự ô nhiễm môi trường nước.[6] h 11 - Nhu cầu oxi hóa (BOD): Nhu cầu oxi sinh hóa là lượng oxi đã sử dụng trong quá trình oxi hóa các chất hữu cơ bởi các sinh vật có trong nước theo phản ứng: Chất hữu cơ + O2  CO2 + H2O + tế bào mới + sản phẩm trung gian BOD là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước. Trong môi trường nước khi các quá trình oxi hóa sinh xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxi hòa tan để oxi hóa các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ. Nồng độ BOD trong các môi trường nước khác nhau Nồng độ BOD (ppm) Chất lượng 1-2 Rất tốt không có nhiều chất hữu cơ 3-5 Tương đối sạch 6-9 Hơi ô nhiễm 10+ Rất ô nhiễm (Nguồn: PGS. Trương Quốc Phú – PGS.

Vũ Ngọc Út, 2011) - Nhu cầu oxi hóa (COD): Là lượng oxi cần thiết cho quá trình oxi hóa hóa học các hợp chất hữu cơ có trong mẫu thành CO2 và nước. b) Tác nhân hóa học - Kim loại nặng: Các kim loại như Hg, Cd, Pb, As, Cu, Zn, Mn,… khi có nồng độ lớn đều làm nước bị ô nhiễm. Kim loại nặng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa và thường tích lũy lại trong cơ thể, vì vậy chúng là chất độc hại đối với sinh vật. kim loại nặng có nhiều trong nguồn nước từ nhiều nguồn như: nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, giao thông, nông nghiệp, khai khoáng,… Một số nguyên tố như Hg, Cd, As rất độc đối với sinh vật dù ở nộng độ rất nhỏ.

Do vậy, hiện nay tiêu chuẩn chất lượng nước, nồng độ các kim loại nặng được quan tâm hàng đầu.[6] h 12 - Các nhóm anion NO3- , PO43- , SO42-: Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ thấp là các chất dinh dưỡng đối với tảo và các sinh vật dưới nước. Ngược lại khi ở nồng độ cao sẽ gây ra sự phú dưỡng hoặc các biến đổi sinh hóa trong cơ thể sinh vật và con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá chất lượng môi trường nước nuôi trồng thủy sản tại Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên 2018" cung cấp một phân tích chi tiết về tình trạng môi trường nước tại khu vực Hồ Núi Cốc, tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá các chỉ số chất lượng nước như độ pH, hàm lượng oxy hòa tan, và nồng độ các chất ô nhiễm mà còn đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường nước, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành thủy sản. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, nhà khoa học và người dân địa phương quan tâm đến bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

Để mở rộng kiến thức về quản lý môi trường và chất thải, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn pháp lý về quản lý chất thải. Ngoài ra, Đồ án xử lý khí thải full file cad bản vẽ thiết kế hệ thống xử lý khí thải cho lò đốt rác sinh hoạt tại huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu công suất 2.000 kg/h sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công nghệ xử lý khí thải. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị mang đến góc nhìn về bảo vệ môi trường tự nhiên. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn!