CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐĂNG KÝ HỘ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ HỘ KINH DOANH 1. Khái quát về đăng ký hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Theo khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04/01/2021 quy định về đăng ký doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định số 01/2021/NĐ-CP): “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh.
Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.” Từ quy định trên, có thể hiểu hộ kinh doanh là tên gọi để chỉ những cá nhân, hoặc hộ gia đình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có cùng chung ý chí, mục đích, lợi nhuận, có đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trước đây, tại các văn bản luật, loại hình hộ kinh doanh được gọi với tên khác là “hộ kinh doanh cá thể”. Tên gọi này được sử dụng từ Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/02/2020 về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP) để thay thế cho hai loại chủ thể là cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh được nêu tại các văn bản luật trước đó. Thời điểm đó, “hộ kinh doanh cá thể” chỉ có thể do cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ.
Tuy nhiên, kể từ Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi là Nghị định số 88/2006/NĐ-CP) cho đến Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, Nghị định số 5 n 78/2015/NĐ-CP và Nghị định 01/2021/NĐ-CP đang có hiệu lực hiện nay thì thuật ngữ “hộ kinh doanh cá thể” được thay thế bởi thuật ngữ “hộ kinh doanh”. Về bản chất, chúng không có sự thay đổi. Tuy nhiên, về chủ thể được phép thành lập và hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh đã được pháp luật bổ sung thêm, đó là pháp luật cho phép “một nhóm người” đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định cũng được phép đăng ký thành lập hộ kinh doanh. Khoản 2 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP không coi các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ có thu nhập thấp là hộ kinh doanh.
Mặc dù những đối tượng này có thể tiến hành một số hoạt động kinh doanh cụ thể như bán các sản phẩm mình tạo ra, mua đi bán lại các mặt hàng nhỏ lẻ, hoặc sử dụng các dịch vụ có thu nhập thấp để kiếm lời nhưng quy mô nhỏ và pháp luật không yêu cầu đăng ký kinh doanh. Quy định này nhằm phân chia các đối tượng thực hiện kinh doanh dựa trên quy mô kinh doanh, cụ thể: ở tầm doanh nghiệp có doanh nghiệp tư nhân, ở tầm thấp hơn có hộ kinh doanh, cuối cùng là quy mô nhỏ lẻ là các đối tượng có tính chất giống như hộ kinh doanh nhưng không phải đăng ký kinh doanh. Hiện nay, tại một số quốc gia trên thế giới quy định về loại hình kinh doanh có một số điểm tương đồng với hộ kinh doanh ở nước ta. Cụ thể: pháp luật của Anh quan niệm: Thương nhân đơn lẻ (sole trader) là một người tiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạt động: có hoặc không có sự trợ giúp của người làm công trong kinh doanh; vốn góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mượn cá nhân.
Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm: Doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) là một doanh thương (a business) được vận hành bởi một người như một tài sản cá nhân của người đó; và doanh nghiệp (enterprise) này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân (individual owner). Thương nhân đơn lẻ 6 n hay doanh nghiệp cá thể theo các quan niệm này là một hình thức kinh doanh có kết cấu khác với các hình thức kinh doanh khác như hợp danh hay các công ty. Quan niệm này hoàn toàn trùng hợp với quan niệm của các luật gia Việt Nam ở các chế độ cũ. Họ xem thương nhân thể nhân là cá nhân (có hình hài, cốt nhục) kinh doanh khác biệt hẳn với các thương nhân pháp nhân là các tổ chức hay đoàn thể được tạo lập bởi sự góp vốn của các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm lợi nhuận.
Các tổ chức này được gọi là các công ty. Mỗi loại công ty có những khía cạnh pháp lý riêng về thành lập và vận hành. Những khía cạnh pháp lý này không có liên quan gì với thương nhân thể nhân. Khi nói về thương nhân theo pháp luật của Pháp (1807).
Tại đó, thương nhân có thể là thể nhân hoặc pháp nhân. Thương nhân thể nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình. Theo hệ thống pháp luật này cá nhân trở thành thương nhân là một vấn đề thực tế được xác định bởi tòa án. Nếu tên một cá nhân xuất hiện trong Sổ đăng ký thương mại tại tòa án thương mại, thì người đó được xem là thương nhân, trừ khi có chứng cứ ngược lại.
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay hộ kinh doanh không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh. Đôi khi hộ kinh doanh có sự hùn vốn của các cá nhân bởi pháp luật cũng đã mô tả như vây. Vì vậy, nếu quan niệm hộ kinh doanh hay hộ kinh doanh cá thể là cá nhân kinh doanh hay thương nhân đơn lẻ là không hoàn toàn đúng. Đặc điểm hộ kinh doanh Một là, hộ kinh doanh do một cá nhân, hoặc một hộ gia đình làm chủ Xét trên góc độ pháp lý, hộ kinh doanh phải là các cá nhân, con người cụ thể.
Thành viên của hộ kinh doanh không thể là một tổ chức hoặc đại diện được các tổ chức cử ra để tham gia hộ kinh doanh. Đối với hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ thì các cá nhân sẽ thỏa thuận với nhau cử ra một đại diện để tham gia vào các quan hệ pháp luật và mối quan hệ giữa các cá nhân 7 n đó là quan hệ đồng chủ sở hữu. Các cá nhân muốn tạo lập hộ kinh doanh thì phải đáp ứng đủ điều kiện về độ tuổi, năng lực pháp luật cũng như năng lực hành vi, ngành nghề đăng ký kinh doanh… Đối với hộ kinh doanh, chủ sở hữu có quyền quyết định các vấn đề về cơ cấu tổ chức, hoạt động, vốn đầu tư, mục tiêu và kế hoạch kinh doanh hoặc chấm dứt sự tồn tại của nó. Chính vì vậy, điểm giống nhau giữa doanh nghiệp tư nhân và chủ hộ kinh doanh (do một cá nhân làm chủ) đều là người duy nhất hưởng lợi nhuận phát sinh và chịu toàn bộ rủi ro trong công việc kinh doanh của mình.
Trong trường hợp có chung đồng chủ sở hữu, người đại diện của hộ kinh doanh chỉ là người thay mặt tất cả các thành viên khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Riêng lợi nhuận và nghĩa vụ tài sản phát sinh thì quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh sẽ được chia cho tất cả các thành viên dựa vào điều khoản thỏa thuận của các thành viên, căn cứ vào số vốn góp hoặc công sức góp vốn của mỗi người. Pháp luật quy định các thành viên của hộ gia đình khi tạo lập hộ kinh doanh phải có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng như ông bà, bố mẹ, con cái trong gia đình, vợ với chồng hoặc bố mẹ với con nuôi. Điều này sẽ tạo nên sức mạnh về kinh tế và một khối thống nhất về ý chí, mục đích trong kinh doanh.
Bởi vì, mỗi người trong hộ đều lao động theo khả năng, trách nhiệm gắn bó với vai trò của họ trong gia đình nên mô hình này sẽ ít xảy ra mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, các thành viên có trách nhiệm cao với số tài sản đóng góp của mình và hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, trong hộ gia đình mọi người đều biết năng lực, sở trường của từng thành viên nên việc bố trí việc làm sẽ phù hợp, linh động dẫn đến sự đồng thuận, nhất trí cao trong hoạt động của hộ. Hai là, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân: 8 n Hộ kinh doanh không thỏa mãn điều kiện để một chủ thể có tư cách pháp nhân theo quy định tại Điều 74 Bộ Luật Dân sự năm 2015. Hộ kinh doanh không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hộ kinh doanh không có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó.
Hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó. Mọi tài sản trong hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Hộ kinh doanh không có tài sản riêng thuộc tài sản của hộ kinh doanh, không có sự tách bạch giữa tài sản của thành viên hộ kinh doanh với hộ kinh doanh.
Do đó hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân. Hộ kinh doanh không nhân danh hộ kinh doanh tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập mà nhân danh chủ hộ tham gia vào các quan hệ pháp luật. Ba là, hộ kinh doanh thường kinh doanh với quy mô nhỏ hẹp Theo quy định của pháp luật, hộ kinh doanh và doanh nghiệp được hoạt động trong nhiều ngành, nghề nhưng các cá nhân khi lựa chọn mô hình hộ kinh doanh thường kinh doanh với số vốn nhỏ, hoạt động đơn giản và dễ kiểm soát. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ hơn doanh nghiệp về các tiêu chí như số lượng người lao động, địa điểm kinh doanh, đất đai, tư liệu sản xuất… Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp thường có phạm vi lớn và ổn định, chủ yếu trong những ngành quan trọng của quốc gia như công nghiệp nặng, dầu khí, xây dựng, giao thông, tài chính… Những ngành này đòi hỏi số vốn đầu tư lớn và trình độ lao động có chuyên môn, nghiệp vụ cao.
Cho nên, đối với doanh nghiệp, pháp luật cho phép được mở rộng quy mô sản xuất bằng việc tăng số vốn đầu tư, số lượng công nhân viên, nhà xưởng sản xuất hàng hóa hoặc thành lập các chi nhánh, công ty con, được ưu đãi sử dụng đất đai và các ưu đãi khác.