Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA HỘ KINH DOANH 1.1 Khái niệm hộ kinh doanh 1.1 Định nghĩa hộ kinh doanh Ở các quốc gia có nền thương mại phát triển trên thế giới quy định về hình thái kinh doanh chủ yếu là do cá nhân thành lập và làm chủ ( One-man business) , những cá nhân cùng nhau thành lập và kinh doanh ( sole trader) và doanh nghiệp một chủ ( sole proprietorship). Để hiểu rõ hơn về khái niệm “hộ kinh doanh” ở Việt Nam, trước hết cần tìm hiểu khái niệm “hộ gia đình” được quy định trong các văn bản pháp luật. Tại Khoản 6 Điều 29 Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981(Sửa đổi bổ sung 1990), hộ gia đình được nhắc đến với tư cách là chủ thể của quan hệ dân sự bắt đầu từ Luật đất đai 1993 khi quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể sử dụng đất bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất1”[23]. Hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự.
Hộ gia đình đã được pháp luật thừa nhận trong văn bản và được nhà nước giao đất sử dụng, thực hiện hoạt động sản xuât và các quyền đối với đất nhà nước giao, chuyển nhượng, thừa kế,… Như vậy, có thể thấy hộ kinh doanh đã là chủ thể của hoạt động sản xuất, kinh doanh, được thừa nhận tài thời điểm này. Hộ kinh doanh thời điểm này được hiểm là một nhóm người trong một gia đình gồm cha, mẹ, ông, bà , các con, các thành viên trong gia đình cùng chung sống và sản xuất, canh tác. “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân 1 Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai 1993 7 sự thuộc các lĩnh vực này2”.Hộ gia đình có tư cách chủ thể và quyền sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và một số ngành nghề truyền thống khác. Hộ kinh doanh theo cách đơn giản là hoạt động kinh tế của các gia đình cùng sản xuất, buôn bán, kinh doanh hoặc cùng cung ứng dịch vụ nào đó để tìm kiếm lợi nhuận trong hoạt động lao động của họ, nâng cao chất lượng lao động, sản lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ tạo ra.
Sự phát triển và hình thành các loại hình hộ kinh doanh đã tồn tại từ rất lâu và sẽ luôn được hình thành, duy trì và tiếp tục phát triển trong bất kỳ hình thái xã hội nào. Các hoạt động kinh tế của hộ gia đình ngày càng đổi mới, và thích nghi theo từng thời kỳ, từng môi trường kinh tế khác nhau để thích nghi và phù hợp, có thể thấy hộ kinh doanh như mầm móng của các hình thái doanh nghiệp, công ty ở cấp độ sơ khai, xuất phát cơ sở là kinh tế của gia đình cùng nhau hoạt động khi có đủ các điều kiện và yếu tố phát triển, lúc đó các gia đình sẽ mở rộng sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức khác nhau như đầu tư thêm vào lao động, trang thiết bị, công cụ nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất và sản lượng tạo ra. Hiện nay theo Luật doanh nghiệp 2014 thì hộ kinh doanh vẫn chưa được coi là doanh nghiệp. Tuy cũng là hoạt động sản xuất , kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận nhưng hộ kinh doanh vẫn chưa đủ các yếu tố để được xem là doanh nghiệp.
Hộ kinh doanh mới chỉ có thành tố kinh tế của mình trong hoạt động thương mại của mình , chưa phải là thành tố pháp lý vì chưa có tư cách pháp nhân. Như vậy hộ kinh doanh được định nghĩa như sau : Khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh doanh như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động 2 Khoản 1 Điều 116 Bộ luật dân sự 1995 8 và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh3”[12]. Hộ kinh doanh là cá nhân hoặc một nhóm ngươi là công dân Việt Nam và đủ tuổi mười tám tuổi đăng ký thành lập và thực hiện hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh với quy mô nhỏ sử dung dụng dưới mười lao động và kinh doanh tại một địa điểm duy nhất.
Đồng thời Khoản 1 Điều 101 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Trong quá trình hoạt động của mình, hộ kinh doanh là chủ thể tham gia và xác lập các quan hệ xã hội hoặc ủy quyền cho một cá nhân khác nhân danh mình tham gia vào quan hệ xã hội. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì việc ủy quyền sẽ được lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền sẽ thể hiện bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền và các nội dung, công việc được ủy quyền và thời hạn của việc ủy quyền.
Người được ủy quyền sẽ được thực hiện các hành vi của người ủy quyền trong phạm vi được ủy quyền. Hộ kinh doanh trong khái niệm kinh tế không phải là doanh nghiệp, nhưng về quy định cụ thể cho loại hình này thì hộ kinh doanh lại là một chủ thể khác biệt thực hiện hoạt động kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận. Như vậy, quy định về hộ kinh doanh vừa có tính chất của doanh nghiệp vừa mang đặc điểm riêng biệt cho loại hình hộ kinh doanh. Từ đó cho thấy hộ kinh doanh được quy định trong các văn bản pháp lý và trong luật đã thừa nhận và quản lý chủ thể này vừa mang tính chất của một doanh nghiệp vừa mang các đặc điểm riêng của loại hình này, về quy định tư cách chủ thể và tư cách pháp lý thì hộ kinh doanh được quy trong Bộ luật dân sự.
3 Khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015 về đăng ký kinh doanh 9 Hộ kinh doanh là mô hình kinh doanh mang tính chất tự cung tự cấp, làng nghề truyền thống, các nghề thủ công, nông – lâm – ngư nghiệp, chủ yếu phát triển mang tính chất gia đình, văn hóa vùng miền của địa phương. Trước đây, Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 đều có quy định về tên gọi “hộ kinh doanh cá thể4”[6]. Sau đó, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 về đăng ký kinh doanh với tên gọi là “hộ kinh doanh”. Nghị định số 88/2006/NĐ-CP định nghĩa: “hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh5”[9].
Định nghĩa hộ kinh doanh cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại do căn cứ vào chủ thể đăng ký thành lập: + Cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh và làm chủ hộ. + Một nhóm gồm từ hai đến mười người cùng quản lý hoạt động hộ kinh doanh. + Chủ hộ gia đình đại diện thành lập hộ kinh doanh và hoạt động kinh doanh. “Hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và hộ kinh doanh do nhóm người xuất phát từ Bộ luật dân sự 1995, 2005 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật theo nghĩa rộng.
Hộ kinh doanh là chủ thể đặc biệt, không phải cá nhân, cũng không phải là pháp nhân, đây được coi như loại hình kinh doanh đặc biệt được quy định trong Nghị Định 78/2015. Chủ hộ kinh doanh là người trực tiếp đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh của hộ, có thể không trực tiếp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh mà thuê, sử dụng lao động để sản xuất kinh doanh, chủ hộ sẽ quản lý số lượng lao động này. Thứ hai, các cá nhân hay các thành viên của “hộ gia đình” không cụ thể và khó khăn trong việc xác định được đúng đâu mới là thành viên và được coi là thành viên 4 Điều 1 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 5 Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 10 của hộ kinh doanh.Chủ hộ kinh doanh là người đại diện cho các thành viên trong hộ đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh và trực tiếp lao động sản xuất trong hộ. + Điều kiện quan hệ, thể hiện qua việc hoặc có quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống hoặc có quan hệ nuôi dưỡng.
(Điều kiện cần) + Điều kiện về nơi ở, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở cùng một nơi hoặ cùng nhau sinh sống dựa vào khối tài sản nào đó. (Điều kiện đủ) Để xác định được các thành viên trong gia đình có hai cách, cách thứ nhất là dựa vào hộ khẩu của gia đình thể hiện các thành viên. Cách thứ hai là dựa vào giấy khai sinh thể hiện quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Nhưng số lượng các thành viên trong gia đình thường biến động theo thời gian , thể hiện qua việc sinh thêm con hoặc thành viên trong gia đình qua đời.
Thực tiễn hiện nay việc xác định thành viên trong gia đình thông qua sổ hộ khẩu không có cơ sở để đứng vứng trong giai đoạn hiện nay. Trường hợp một nhóm người không phải là thành viên trong gia đình , không có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. Trường hợp này góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhưng gây trở ngại về mặt quản lý trách nhiệm của các thành viên trong hộ. Hộ kinh doanh có các đặc điểm để phân biệt với doanh nghiệp qua việc sử dụng lao động.