Luận văn thạc sĩ đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố biên hòa tỉnh đồng nai

Luận văn thạc sĩ phân tích đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, áp dụng thực tiễn tại TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

74
6
3

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ Đăng Ký Kinh Doanh Hộ Kinh Doanh Theo Pháp Luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc phân tích quy trình đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, đặc biệt là từ góc nhìn thực tiễn tại Biên Hòa, Đồng Nai. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh được định nghĩa là một hình thức kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người thực hiện, không có tư cách pháp nhân. Theo Nghị định 78/2015/NĐ-CP, hộ kinh doanh là chủ thể kinh tế nhỏ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại và dịch vụ. Đặc điểm nổi bật của hộ kinh doanh là quy mô nhỏ, tính linh hoạt cao và khả năng thích ứng nhanh với thị trường. Tuy nhiên, hộ kinh doanh cũng gặp nhiều thách thức về mặt pháp lý, đặc biệt là trong quá trình đăng ký kinh doanh.

1.2. Quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định rõ các điều kiện và thủ tục đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, hộ kinh doanh phải đáp ứng các yêu cầu về địa điểm kinh doanh, ngành nghề và vốn đầu tư. Quy trình đăng ký kinh doanh bao gồm việc nộp hồ sơ, xét duyệt và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD). Tuy nhiên, thực tế tại Biên Hòa, Đồng Nai cho thấy nhiều hộ kinh doanh gặp khó khăn trong việc tuân thủ các quy định này do thiếu thông tin và hỗ trợ từ cơ quan quản lý.

II. Thực Tiễn Đăng Ký Kinh Doanh Tại Biên Hòa Đồng Nai

Nghiên cứu thực tiễn tại Biên Hòa, Đồng Nai cho thấy nhiều hộ kinh doanh gặp khó khăn trong quá trình đăng ký kinh doanh. Các vấn đề chính bao gồm sự phức tạp của thủ tục hành chính, thiếu thông tin và hỗ trợ từ cơ quan quản lý, cũng như sự không đồng bộ giữa các quy định pháp luật. Luận văn đã phân tích các yếu tố địa phương ảnh hưởng đến việc thực hiện đăng ký kinh doanh, bao gồm đặc điểm kinh tế - xã hội và môi trường pháp lý tại Đồng Nai.

2.1. Tình hình đăng ký kinh doanh tại Biên Hòa

Tại Biên Hòa, số lượng hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh tăng đều qua các năm, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, nhiều hộ kinh doanh vẫn hoạt động không có GCNĐKKD, dẫn đến rủi ro pháp lý và khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ từ nhà nước. Nguyên nhân chính là sự phức tạp của thủ tục hành chính và thiếu thông tin về quy trình đăng ký kinh doanh.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân

Một trong những hạn chế lớn nhất là sự không đồng bộ giữa các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh và thực tiễn áp dụng tại địa phương. Ngoài ra, nhiều hộ kinh doanh không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc đăng ký kinh doanh, dẫn đến việc bỏ qua các thủ tục pháp lý cần thiết. Luận văn cũng chỉ ra sự thiếu hỗ trợ từ các cơ quan quản lý trong việc hướng dẫn và tư vấn cho hộ kinh doanh.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật và Nâng Cao Hiệu Quả Đăng Ký Kinh Doanh

Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đăng ký kinh doanh và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Biên Hòa, Đồng Nai. Các giải pháp bao gồm việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường hỗ trợ và tư vấn pháp lý cho hộ kinh doanh, cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc đăng ký kinh doanh.

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đăng ký kinh doanh, cần rà soát và sửa đổi các quy định hiện hành để đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm bớt các yêu cầu không cần thiết trong quá trình đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ và tư vấn pháp lý cho hộ kinh doanh.

3.2. Giải pháp thực hiện tại Biên Hòa

Tại Biên Hòa, Đồng Nai, cần tăng cường các chương trình tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc đăng ký kinh doanh. Các cơ quan quản lý cần cung cấp thông tin đầy đủ và hướng dẫn chi tiết về quy trình đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh. Ngoài ra, cần thiết lập các kênh hỗ trợ trực tiếp để giải đáp thắc mắc và hỗ trợ hộ kinh doanh trong quá trình thực hiện thủ tục.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố biên hòa tỉnh đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA HỘ KINH DOANH 1.1 Khái niệm hộ kinh doanh 1.1 Định nghĩa hộ kinh doanh Ở các quốc gia có nền thương mại phát triển trên thế giới quy định về hình thái kinh doanh chủ yếu là do cá nhân thành lập và làm chủ ( One-man business) , những cá nhân cùng nhau thành lập và kinh doanh ( sole trader) và doanh nghiệp một chủ ( sole proprietorship). Để hiểu rõ hơn về khái niệm “hộ kinh doanh” ở Việt Nam, trước hết cần tìm hiểu khái niệm “hộ gia đình” được quy định trong các văn bản pháp luật. Tại Khoản 6 Điều 29 Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981(Sửa đổi bổ sung 1990), hộ gia đình được nhắc đến với tư cách là chủ thể của quan hệ dân sự bắt đầu từ Luật đất đai 1993 khi quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể sử dụng đất bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất1”[23]. Hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự.

Hộ gia đình đã được pháp luật thừa nhận trong văn bản và được nhà nước giao đất sử dụng, thực hiện hoạt động sản xuât và các quyền đối với đất nhà nước giao, chuyển nhượng, thừa kế,… Như vậy, có thể thấy hộ kinh doanh đã là chủ thể của hoạt động sản xuất, kinh doanh, được thừa nhận tài thời điểm này. Hộ kinh doanh thời điểm này được hiểm là một nhóm người trong một gia đình gồm cha, mẹ, ông, bà , các con, các thành viên trong gia đình cùng chung sống và sản xuất, canh tác. “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân 1 Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai 1993 7 sự thuộc các lĩnh vực này2”.Hộ gia đình có tư cách chủ thể và quyền sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và một số ngành nghề truyền thống khác. Hộ kinh doanh theo cách đơn giản là hoạt động kinh tế của các gia đình cùng sản xuất, buôn bán, kinh doanh hoặc cùng cung ứng dịch vụ nào đó để tìm kiếm lợi nhuận trong hoạt động lao động của họ, nâng cao chất lượng lao động, sản lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ tạo ra.

Sự phát triển và hình thành các loại hình hộ kinh doanh đã tồn tại từ rất lâu và sẽ luôn được hình thành, duy trì và tiếp tục phát triển trong bất kỳ hình thái xã hội nào. Các hoạt động kinh tế của hộ gia đình ngày càng đổi mới, và thích nghi theo từng thời kỳ, từng môi trường kinh tế khác nhau để thích nghi và phù hợp, có thể thấy hộ kinh doanh như mầm móng của các hình thái doanh nghiệp, công ty ở cấp độ sơ khai, xuất phát cơ sở là kinh tế của gia đình cùng nhau hoạt động khi có đủ các điều kiện và yếu tố phát triển, lúc đó các gia đình sẽ mở rộng sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức khác nhau như đầu tư thêm vào lao động, trang thiết bị, công cụ nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất và sản lượng tạo ra. Hiện nay theo Luật doanh nghiệp 2014 thì hộ kinh doanh vẫn chưa được coi là doanh nghiệp. Tuy cũng là hoạt động sản xuất , kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận nhưng hộ kinh doanh vẫn chưa đủ các yếu tố để được xem là doanh nghiệp.

Hộ kinh doanh mới chỉ có thành tố kinh tế của mình trong hoạt động thương mại của mình , chưa phải là thành tố pháp lý vì chưa có tư cách pháp nhân. Như vậy hộ kinh doanh được định nghĩa như sau : Khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh doanh như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động 2 Khoản 1 Điều 116 Bộ luật dân sự 1995 8 và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh3”[12]. Hộ kinh doanh là cá nhân hoặc một nhóm ngươi là công dân Việt Nam và đủ tuổi mười tám tuổi đăng ký thành lập và thực hiện hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh với quy mô nhỏ sử dung dụng dưới mười lao động và kinh doanh tại một địa điểm duy nhất.

Đồng thời Khoản 1 Điều 101 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Trong quá trình hoạt động của mình, hộ kinh doanh là chủ thể tham gia và xác lập các quan hệ xã hội hoặc ủy quyền cho một cá nhân khác nhân danh mình tham gia vào quan hệ xã hội. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì việc ủy quyền sẽ được lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền sẽ thể hiện bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền và các nội dung, công việc được ủy quyền và thời hạn của việc ủy quyền.

Người được ủy quyền sẽ được thực hiện các hành vi của người ủy quyền trong phạm vi được ủy quyền. Hộ kinh doanh trong khái niệm kinh tế không phải là doanh nghiệp, nhưng về quy định cụ thể cho loại hình này thì hộ kinh doanh lại là một chủ thể khác biệt thực hiện hoạt động kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận. Như vậy, quy định về hộ kinh doanh vừa có tính chất của doanh nghiệp vừa mang đặc điểm riêng biệt cho loại hình hộ kinh doanh. Từ đó cho thấy hộ kinh doanh được quy định trong các văn bản pháp lý và trong luật đã thừa nhận và quản lý chủ thể này vừa mang tính chất của một doanh nghiệp vừa mang các đặc điểm riêng của loại hình này, về quy định tư cách chủ thể và tư cách pháp lý thì hộ kinh doanh được quy trong Bộ luật dân sự.

3 Khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015 về đăng ký kinh doanh 9 Hộ kinh doanh là mô hình kinh doanh mang tính chất tự cung tự cấp, làng nghề truyền thống, các nghề thủ công, nông – lâm – ngư nghiệp, chủ yếu phát triển mang tính chất gia đình, văn hóa vùng miền của địa phương. Trước đây, Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 đều có quy định về tên gọi “hộ kinh doanh cá thể4”[6]. Sau đó, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 về đăng ký kinh doanh với tên gọi là “hộ kinh doanh”. Nghị định số 88/2006/NĐ-CP định nghĩa: “hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh5”[9].

Định nghĩa hộ kinh doanh cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại do căn cứ vào chủ thể đăng ký thành lập: + Cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh và làm chủ hộ. + Một nhóm gồm từ hai đến mười người cùng quản lý hoạt động hộ kinh doanh. + Chủ hộ gia đình đại diện thành lập hộ kinh doanh và hoạt động kinh doanh. “Hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và hộ kinh doanh do nhóm người xuất phát từ Bộ luật dân sự 1995, 2005 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật theo nghĩa rộng.

Hộ kinh doanh là chủ thể đặc biệt, không phải cá nhân, cũng không phải là pháp nhân, đây được coi như loại hình kinh doanh đặc biệt được quy định trong Nghị Định 78/2015. Chủ hộ kinh doanh là người trực tiếp đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh của hộ, có thể không trực tiếp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh mà thuê, sử dụng lao động để sản xuất kinh doanh, chủ hộ sẽ quản lý số lượng lao động này. Thứ hai, các cá nhân hay các thành viên của “hộ gia đình” không cụ thể và khó khăn trong việc xác định được đúng đâu mới là thành viên và được coi là thành viên 4 Điều 1 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 5 Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 10 của hộ kinh doanh.Chủ hộ kinh doanh là người đại diện cho các thành viên trong hộ đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh và trực tiếp lao động sản xuất trong hộ. + Điều kiện quan hệ, thể hiện qua việc hoặc có quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống hoặc có quan hệ nuôi dưỡng.

(Điều kiện cần) + Điều kiện về nơi ở, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở cùng một nơi hoặ cùng nhau sinh sống dựa vào khối tài sản nào đó. (Điều kiện đủ) Để xác định được các thành viên trong gia đình có hai cách, cách thứ nhất là dựa vào hộ khẩu của gia đình thể hiện các thành viên. Cách thứ hai là dựa vào giấy khai sinh thể hiện quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Nhưng số lượng các thành viên trong gia đình thường biến động theo thời gian , thể hiện qua việc sinh thêm con hoặc thành viên trong gia đình qua đời.

Thực tiễn hiện nay việc xác định thành viên trong gia đình thông qua sổ hộ khẩu không có cơ sở để đứng vứng trong giai đoạn hiện nay. Trường hợp một nhóm người không phải là thành viên trong gia đình , không có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. Trường hợp này góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhưng gây trở ngại về mặt quản lý trách nhiệm của các thành viên trong hộ. Hộ kinh doanh có các đặc điểm để phân biệt với doanh nghiệp qua việc sử dụng lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ với tiêu đề "Đăng Ký Kinh Doanh Hộ Kinh Doanh Theo Pháp Luật Việt Nam - Thực Tiễn Tại Biên Hòa, Đồng Nai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và thực tiễn đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh tại Việt Nam, đặc biệt là tại Biên Hòa, Đồng Nai. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội mà các hộ kinh doanh phải đối mặt trong quá trình đăng ký. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức thực hiện thủ tục đăng ký, cũng như những lợi ích mà việc đăng ký mang lại cho các hộ kinh doanh, từ việc hợp pháp hóa hoạt động kinh doanh đến việc tiếp cận các nguồn vốn và hỗ trợ từ nhà nước.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học đăng ký kinh doanh theo pháp luật việt nam và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố hải phòng", nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về quy trình đăng ký kinh doanh tại Hải Phòng. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp theo pháp luật việt nam thực tiễn áp dụng tại thành phố hà nội" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các thủ tục gia nhập thị trường cho doanh nghiệp tại Hà Nội. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.