CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. THỂ Lực VÀ TÌNH TRẠNG BỆNH TẬT VỚI sự PHÁT TRIEN KINH TẾ XÃ HỘI Có rất nhiều cách định nghĩa sức khoẻ đã được đề cập với nhiều ý nghĩa khác nhau từ trạng thái lý tưởng cho đêh tình trạng không mắc bệnh. Mỗi định nghĩa về sức khoẻ cho ta những cách nhìn nhận, cách phát hiện các vấn đề sức khoẻ, tình hình cũng như xu hướng sức khoẻ và bệnh tật của cộng đồng. Việc tiếp cận theo định nghĩa nào tuỳ thuộc người nghiên cứu nhưng mục đích để tìm ra các chính sách, kế hoạch can thiệp phù hợp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của cộng đồng.
TỔ chức Y tế Thế giới (WHO) trong tuyên ngôn Alma - Ata năm 1978 đã định nghĩa sức khoẻ như sau: “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không mắc bệnh.” Như vây một cơ thể khoẻ mạnh trước hết phải có một thể chất tốt và không có bệnh tật, hay nói cách khác thể lực và tình trạng bệnh tật là những chỉ số quan trọng của sức khoẻ. Thể lực có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Hadda và Bouis [64] đã tiến hành nghiên cứu trên các công nhân nông nghiệp cho thấy các chỉ số hình thái (chiều cao và cân nặng) là yếu tố quyết định cho năng suất lao động và thu nhập của công nhân. Berman [55] trong tài liệu nhằm chứng minh việc tại sao phải đầu tư cho dinh dưỡng ở các nước đang phát triển đã trình bày các bằng chứng cho thấy cải thiện dinh dưỡng có thể cải thiện thể lực và năng suất của công nhân và như vậy góp phần xoá đói giảm nghèo.
5 Trong đời sống cá thể cũng như sự tồn tại của xã hội loài người, sự vân động thay đổi của môi trường sinh thái, của các vấn đề về kinh tế - xã hội luôn tạo ra những nguy cơ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khoẻ con người. Kết quả của sự phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ đó là bệnh tật và nhiều khi cả là tử vong. Mặc dù các mối đe dọa chính ảnh hưởng tới sức khoẻ con người đã thay đổi trong thế kỷ 20 từ các bệnh nhiễm trùng sang các bệnh mãn tính, các bệnh tật của xã hội hiện đại, nhưng bệnh tật vãn luôn là những gánh nặng cho mỗi cá thể, mỗi gia đình và mỗi cộng đồng. Vấn đề mất sức lao động và các khoản chi phí khám chữa bệnh lạo nên gánh nặng kinh tế cho người ốm, cộng đồng tăng gánh nặng chi phí các dịch vụ công cộng để chăm sóc và điều trị.
Hàng năm chính phủ Mỹ phải trả gần 190 tỷ USD cho cho việc chăm sóc sức khoẻ, thuốc men, sản xuất giảm do bị tàn tật hay tử vong. Chỉ tính riêng bệnh lim mạch và đột quị hàng năm đã cướp đi sinh mạng của khoảng 75.000 người ở Canada. Nhiễm trùng hô hấp cũng là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong trên thế giới với khoảng 4 triệu người hàng năm [45]. Theo Berger và Mohan (1996) trên thế giới chấn thương là nguyên nhân gây nên tàn phê' cho khoảng 78 triệu người mỗi năm.
Các chi phí hàng năm của xã hội và y tế cho chấn thương được ước lính là trên 500 tỷ USD trên toàn thế giới. Ngoài các chi phí cho dịch vụ cấp cứu, các chi phí không kể xiết cho việc tiếp tục điều trị. phục hồi chức năng và mất khả năng lao động do tử vong và tàn tật gây nên [72]. Đặc biệt căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS đã gây nên những hậu quả nặng nề cho hàng chục triệu người, đó là: sự phân biệt đối xử, gia đình tan vỡ, mất sức lao động và cả lử vong.
Chi phí trực tiếp cho hệ thống dự phòng và chăm sóc và điều trị bệnh nhân AIDS trên toàn cẩu năm 2000 lên tới 500 tỷ USD [16]. Như vậy thể lực và lình trạng bệnh tật là những chỉ số quan trọng quyết định chất lượng dân số, thu nhập cá nhân và sự phát triển kinh tế xã hội. Điều đó càng quan trọng hơn đối với nam thanh niên lứa tuổi khám tuyển nhập ngũ 6 (17 - 28 tuổi) vì đây là lứa tuổi được coi như cánh cửa sức khoẻ đối với tuổi khác và là một trong những lực lượng lao động chính của xã hội [2] [45]. TÌNH HÌNH NGHIÊN cúu HÌNH THÁI THỂ Lực VÀ TÌNH TRẠNG BỆNH TẬT 2.
Sơ lược tình hình nghiên cứu các chỉ sỏ hình thái thể lực trén thế giới Tầm vóc và thể lực là những đăc điểm sinh thể quan trọng, phản ánh một phần thực ưạng sức khoẻ và đặc biệt liên quan chặt chẽ đến khả năng lao động và thẩm mỹ của con người. Vì vây, đã từ lâu hình thái - thể lực đã được các nhà y học, hình thái học nghiên cứu. Nhiều tác giả đã đề cập đến sự tương quan giữa các kích thước dưới dạng các công thức toán học: có công thức đơn giản gồm 2 kích thước chiều cao đứng và cân nặng như chỉ số Broca, Quetelet, Kaup; có công thức gồm nhiều chỉ số cả chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực như Pignet, QVC hoặc nhiều chỉ số khác trong nhiều công thức khác. Càng ngày các chỉ số hình thái thể lực càng được đo đạc và đánh giá chính xác trong mối tương quan của sức khoe.
Được ra dời từ lâu, từ khi con người biết đo chiều cao và trọng lượng cơ thể mình, nhưng Nhân trắc học chỉ thực sự phát triển từ đầu thế kỷ XX, khi Fisher xây dựng được ngành thống kê toán học ứng dụng vào sinh học. Đặc biệt, vào năm 1919, Rudolf Martin, nhà nhân chủng học người Đức đã đề xuất các phương pháp và dụng cụ đo đạc kích thước cư thể người một cách hệ thống qua hai tác phẩm “Giáo trình về nhân học” và “Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”. Có thể nói, Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại [11] [21]. Từ khi trở thành một môn khoa học độc lập, Nhân trắc học ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: tìm hiểu các đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người (trong nhân chủng học), xác định được những biến đổi hình thái cơ thể bệnh lý (trong y học), thiết kế công nghiệp (trong ecgonomi).
Martin đưa ra phương pháp đánh giá mới về thể lực. ông lập bảng chuẩn nhiều đặc điểm hình thái cơ thể, đối với mỗi đặc điểm lại chia làm nhiều loại. Phương pháp này sau được Stephenco bổ sung, ông coi chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực là ba đặc điểm biến đổi độc lập, trong khi thực tế chi’ có chiều cao đứng biến đổi độc lập còn cân nặng và vòng ngực thì biến đổi phụ thuộc vào chiều cao đứng [11], Năm 1941, Bunak qua nghiên cứu nhận thấy sự tăng trưởng của nam giới chỉ dừng lại lúc 25 tuổi, còn theo Uruxonxa (1962) thì sự tăng trưởng của nữ giới lại kết thúc ở độ tuổi 18 và của nam giới ở độ tuổi 19. Những năm 60 của thế kỷ trước, chương trình nghiên cứu sinh học thê' giới do UNESCO (United Nations Educational, Sientific and Cultural Organization: Tổ chức giáo dục, khoa học và vãn hoá của Liên hợp quốc) chủ trì, Nhân trắc học được đặc biệt chú ý và các dụng cụ đo đạc nhân trắc học được tiêu chuẩn hoá và được sản xuất ở nhiều nước.
Năm 1961, Nold và Volsuski nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao cơ thể trẻ em. Cùng thời gian đó, Graef và Cone đã thống kê nhiều số liệu chứng minh rằng tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng các kích thước và chỉ số hình thể, đặc biệt là chiều cao và cân nặng. Năm 1962, Baskirov đã xuất bản cuốn “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người”. Trong đó, tác giả nêu ra một số qui luật phát triển cơ thể dưới sự ảnh hưởng của những điều kiện sống khác nhau [11].
Vandervael [62] viết trong cuốn sách giáo khoa “Biomete humaire” trình bày tương đối toàn diện về các qui luật phát triển theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực với các đặc trưng thống kê toán học. Soloviev cho ràng sự tăng trưởng các kích thước hình thái với sự chín sinh dục có mối liên hệ với nhau. 8 Trong vòng khoảng 50 năm trở lại đây, ở Liên xô (cũ), Đức, Hungari, Ba Lan, Tiệp khắc (cũ), Pháp, Nhật,. số lượng các công trình nghiên cứu hình thái học có thể lên tới hàng chục nghìn.
Các công trình này đề cập nhiều đến sự tăng trưởng kích thước tổng thể và phát triển cơ thể của thanh thiếu niên ở các lứa tuổi. Người ta nhận thấy .trong thời gian gần đây, có sự gia tăng về các chỉ số cơ thể của thanh thiếu niên. Đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, tại các nước này người ta đã xác định một cách đầy đủ, hoàn thiện về các chí số thể lực để đánh giá thực trạng và mức tăng trưởng thể lực của dân tộc họ qua những giai đoạn khác nhau. Ở Nhật, người ta đã đánh giá được mức tăng trưởng thể lực đó khá cao kể từ sau Đại chiến Thế giới thứ 2 và nhất là giai đoạn 20 năm gần đây [56] [57] [60] [61].
Tình hình nghiên cứu hình thái thể lực ở Việt Nam Từ lâu, một số tác giả như Đỗ Xuân Hợp (1943), Trần Nhật úc (1959), Ngô Thê' Phương (1960), Nguyễn Quang Quyền (1960 - 1975) đã có những nghiên cứu có giá trị về thể lực của người Việt nam trưởng thành. Đặc biệt, từ sau 1975 đã có nhiều công trình nghiên cứu về tầm vóc - thể lực của người Việt Nam trên nhiều nhóm đối lượng như sinh viên, nông dân, công nhân. với những phương pháp nghiên cứu chuẩn xác, đã đưa ra được các kết quả đáng tin cậy và có sức thuyết phục, phần nào cho thấy những thay đổi về hình thái thể lực của người Việt Nam theo thời gian.