CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ DƯỢC VIỆT NAM VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT THUỐC MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Trình bày được quá trình phát triển công nghệ Dược Việt Nam, định hướng phát triển đến năm 2045 2. Phân biệt được thuốc mới với thuốc generic, trình bày được các tư liệu cần nghiên cứu để phát triển sản xuất thuốc mới 3.
Trình bày được các tư liệu cần nghiên cứu để phát triển sản xuất thuốc generic. Quá trình hình thành phát triển công nghệ dược Việt Nam 1. Vài nét về sự phát triển ngành Dược và công nghệ Dược Việt Nam Quá trình hình thành và phát triển công nghệ Dược Việt Nam gắn liền với sự phát triển của ngành Dược Việt Nam. Từ khi dựng nước các dân tộc ở các vùng miền đều có các bài thuốc dân gian dùng trong điều trị bệnh.
Đây là cơ sở cho sự phát triển thuốc nam (thuốc từ dược liệu). Trong thời kỳ các triều đại phong kiến, đông dược được phát triển với sự ảnh hưởng của nền y học phương Đông từ thế kỷ 10 đến thế ký 19. Có thể nêu các dấu mốc nổi bật trong sự phát triển ngành Dược và công nghệ Dược Việt Nam qua các thời kỳ như sau: a. Thời kỳ phong kiến Thời kỳ triều Lý (1010 – 1224), Nhà vua lập ra Thái Y Viện chăm lo bảo vệ sức khỏe cho vua quan trong triều, có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp lo việc chữa bệnh cho nhân dân, phát triển.
Thời kỳ này, đã có lý luận và thực tiễn chế biến và sử dụng dược liệu. Triều Trần (1225 – 1399): Danh y, thiền sư Tuệ Tĩnh đã nghiên cứu những cây cỏ Việt Nam, sưu tầm những bài thuốc giản dị thường dùng trong dân gian kết hợp kinh nghiệm trị bệnh của Trung y, xây dựng một sự nghiệp có tính chất dân tộc, đại chúng và sáng tạo trong thời kỳ mà thuốc Bắc rất thịnh hành. Tuệ Tĩnh đã để lại 2 tác phẩm có giá trị là “Hồng Nghĩa giác tự y thư” và “Nam Dược thần hiệu”. Bộ Nam dược thần hiệu gồm 11 quyển, quyển đầu nói về dược tính của 499 vị thuốc nam, mười quyển sau, mỗi quyển nói về một khoa trị bệnh.
Tư tưởng chỉ đạo của Tuệ Tĩnh về đường hướng y học là “Nam dược trị Nam nhân” nghĩa là dùng thuốc nam chữa bệnh cho người Nam Việt. 1 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 Triều Hậu Lê (1428 – 1788): Đại danh y Lê Hữu Trác (hiệu là Hải Thượng Lãn Ông) đã biên soạn bộ sách đồ sộ “Hải Thượng y Tôn Tâm Lĩnh” (gồm 28 tập 66 quyển, 800 vị thuốc). Ông đã hệ thống hoá khá đầy đủ về lý luận đông y và phương dược thuốc nam, thuốc bắc kết hợp để điều trị bệnh nội, ngoại, nhị, khoa, phụ khoa. Ông cũng bổ sung 30 vị thuốc nam cho bộ sách thuốc “Nam dược thần hiệu”.
Sự nghiệp của Hải Thượng Lãn Ông đã góp phần cho nền y dược học Việt Nam phát triển đến mức độ cao, có những phương pháp chữa bệnh và những phương pháp chữa bệnh và những bài thuốc phù hợp với cơ thể bệnh lý, điều trị khí hậu Việt Nam, tình hình sức khoẻ và thể chất con người Việt Nam. Triều Nguyễn (1802 – 1883): Nguyễn Quang Lương. Nam thiên đức bảo tòng thư. Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945) Lương y, dược sỹ Việt Nam đã phát triển bào chế đông dược, đã có các tài liệu: Việt Nam Dược học, 5 cuốn (Phó Đức Thành chủ biên), Trung Việt Dược tính hợp biên, 1655 vị thuốc Nam Bắc (Đinh Nho Chấn chủ biên).
Từ năm 1925 đến năm 1945 đã có 36 dược sỹ đệ nhất Đông Dương được Pháp đào tạo cấp bằng, nhập thuốc tây, mở hiệu thuốc. Các Dược sỹ pha chế thuốc tại các viện bào chế (bệnh viện) tại 3 kỳ: Bắc, Trung , Nam. Thời kỳ sau cách mạng Tháng 8 (1945 – 1954) Ban Quân Dược Việt Nam đào tạo trên 100 Dược sĩ trung cấp, Dược tá, 32 Dược sĩ Đại học, đã có 6 xưởng Quân dược hoạt động phục vụ chiến thương, pha chế thuốc tiêm, tiêm truyền, thuốc viên, thuốc mỡ, thuốc nước, sản xuất bông băng, y cụ, hóa dược (ether, ethanol, đồng sulfat, canxi clorid, cafein, bột long não, mocfin, rotundin. Năm 1951 giáo sư Đặng Văn Ngữ cùng các cộng sự đã bào chế dịch lọc penicillin dùng cho bệnh binh.
Thời kỳ 1955 – 1975 Ở miền Bắc đã có 3 xí nghiệp Dược phẩm TW1, TW2, TW3 và một số xí nghiệp dược phẩm ở cấp tỉnh. Ở miền Nam có trên 120 viện bào chế và xưởng sản xuất dược phẩm lớn nhỏ với nguồn nguyên liệu nhập ngoại. Thời kỳ đất nước đã thống nhất 1975 – 1984 Ở miền Bắc các xí nghiệp Dược phẩm phát triển. Ở miền Nam đã thành lập xí nghiệp Dược phẩm trực thuộc Trung Ương (Tổng công ty Liên hiệp Dược Việt Nam), 2 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 Xí nghiệp dược phẩm TW21, 22, 23, 24, 25, 26, Xí nghiệp dược phẩm 2-9, Xí nghiệp dược phẩm 3-2,.
Thời kỳ đổi mới và hội nhập 1985 đến nay: Cho đến năm 1996 nhiều xí nghiệp Dược phẩm nâng cấp đạt tiêu chuẩn GMP Asian sau đó đến năm 2005 đạt GMP WHO. Đã phát triển theo các hướng công nghệ hóa dược, kháng sinh, công nghệ bao bì, công nghệ bào chế (nâng cao sinh khả dụng, độ ổn định, ứng dụng triển khai và sản xuất dạng bào chế hiện đại, thuốc giải phóng kiểm soát,…), phát triển vùng dược liệu… Tính đến năm 2020, công nghiệp dược Việt Nam đã tập trung phát triển sản xuất thuốc generic thay thế thuốc nhập ngoại, phát triển sản xuất thuốc từ dược liệu, vaccin, bước đầu xây dựng công nghệ hóa dược. Định hướng phát triển công nghiệp Dược Việt Nam đến năm 2045 Theo quyết định 376/ QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 17 tháng 3 năm 2021 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu, sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, định hướng phát triển công nghiệp dược Việt Nam như sau: - Ưu tiên phát triển công nghiệp dược, sản xuất nguyên liệu làm thuốc trong nước với các cơ chế chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ ở mức cao theo quy định của pháp luật. - Thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư phát triển công nghiệp dược, chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài trong sản xuất thuốc phát minh còn bản quyền, thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc generic có dạng bào chế công nghệ cao, vắc xin, sinh phẩm tham chiếu, sinh phẩm tương tự.
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu khoa học, sản xuất thuốc mới, thuốc dược liệu chất lượng cao, phát triển sản xuất thuốc dược liệu mang thương hiệu quốc gia. - Phát huy lợi thế nguồn dược liệu trong nước, đặc biệt là các loại dược liệu đặc hữu, quý, có giá trị kinh tế cao. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng công nghiệp dược trong nước phát triển ở trình độ cao, đạt cấp độ 4 thang thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có giá trị thị trường trong tốp 3 ASEAN, góp phần đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, an toàn, hiệu quả và hợp lý. Phát triển dược liệu và các sản phẩm từ nguồn dược liệu trong nước thành lĩnh vực sản xuất hàng hóa có chất lượng và giá trị cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên thế giới.
3 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025 - Thuốc sản xuất trong nước đạt 75% số lượng sử dụng và 60% giá trị thị trường, tỷ lệ sử dụng dược liệu nguồn gốc trong nước, thuốc dược liệu tăng thêm ít nhất 10% so với năm 2020. - Xây dựng được 08 vùng khai thác bền vững dược liệu tự nhiên. Xây dựng được 02-05 vùng trồng sản xuất dược liệu quy mô lớn, mỗi vùng khai thác hoặc vùng trồng có 01-02 chuỗi liên kết nghiên cứu, nuôi trồng, chế biến sản xuất dược liệu tuân thủ nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của Tổ chức Y tế thế giới (GACP-WHO) Đến năm 2030 - Thuốc sản xuất trong nước đạt khoảng 80% số lượng sử dụng và 70% giá trị thị trường, tỷ lệ sử dụng dược liệu nguồn gốc trong nước, thuốc dược liệu tăng thêm ít nhất 30% so với năm 2020, phát triển được 10 – 15 dược liệu di thực đáp ứng nhu cầu trong nước. Phục tráng, nhập nội, di thực, phát triển được 10 – 15 giống cây dược liệu có nguồn gốc nhập khẩu số lượng lớn.
- Chuyển giao công nghệ sản xuất ít nhất 100 thuốc phát minh còn bản quyền, vắc xin, sinh phẩm y tế và thuốc mà Việt Nam chưa sản xuất được. - Trở thành trung tâm sản xuất dược phẩm giá trị cao trong khu vực. Phấn đấu giá trị xuất khẩu thuốc sản xuất trong nước đạt khoảng 01 tỷ USD. Đến năm 2045: Việt Nam có thuốc phát minh từ nguồn dược liệu đặc hữu được nghiên cứu, sản xuất và đăng ký bản quyền.
Phấn đấu tổng giá trị ngành công nghiệp dược đóng góp vào GDP trên 20 tỷ USD. Nghiên cứu phát triển sản xuất thuốc 1. Một số khái niệm và thuật ngữ về thuốc Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vaccin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng. Thuốc phát minh (thuốc mới) là thuốc được cấp phép lưu hành đầu tiên trên thị trường có đầy đủ tư liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả.
Thuốc mới thường được bảo hộ độc quyền. 4 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 Thuốc mới theo quy định của Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế Việt Nam là thuốc lần đầu tiên đăng ký bao gồm: hoạt chất mới hoặc có sự kết hợp mới các hoạt chất. Hoạt chất mới (theo WHO) là một hoạt chất hóa học hay sinh học từ trước đến nay chưa được cấp giấy phép lưu hành sử dụng trong Dược phẩm tại một quốc gia. Sự kết hợp mới các hoạt chất (dược chất) đồng nghĩa với khái niệm sự phối hợp các dược chât chưa được hiểu rõ.
Theo WHO, sự phối hợp các hợp chất đã được hiểu rõ ở liều cố định là: - Đã được lưu hành trên thị trường tối thiểu năm năm ở những nước có chính sách theo dõi thuốc tích cực sau khi đã được cấp phép. - Đã được sử dụng trên số lượng lớn bệnh nhân, qua đó có thể đảm bảo hiệu quả và tính an toàn của thuốc. - Có cùng hàm lượng và đường dùng thuốc, có cùng chỉ định với các hoạt chất đã lưu hành ở các nước.