Giáo trình Điều dưỡng Bệnh truyền nhiễm do ThS. Ngô Thị Huyền chủ biên - Đại học Đại Nam

Trường đại học

Đại học Đại Nam

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2021

196
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình điều dưỡng bệnh truyền nhiễm

Giáo trình điều dưỡng bệnh truyền nhiễm do ThS. Ngô Thị Huyền chủ biên là tài liệu chuyên khoa được biên soạn dành cho sinh viên khoa Điều dưỡng tại Trường Đại học Đại Nam. Giáo trình cung cấp kiến thức nền tảng về đặc điểm chung của bệnh truyền nhiễm, phân loại theo đường lây và nguyên tắc phòng chống. Nội dung bao gồm các bệnh thường gặp như cúm, sởi, thủy đậu, tả, thương hàn, sốt xuất huyết, HIV/AIDS và nhiều bệnh lý khác. Tài liệu nhấn mạnh vai trò của điều dưỡng viên trong việc đánh giá tình trạng người bệnh, lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện các biện pháp phòng chống lây nhiễm trong bệnh viện. Giáo trình được xuất bản năm 2021 tại Hà Nội, phản ánh xu hướng bệnh truyền nhiễm và bệnh nhiệt đới tại Việt Nam. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp người học nắm vững quy trình chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân truyền nhiễm.

1.1. Vị trí và tầm quan trọng của giáo trình

Giáo trình điều dưỡng bệnh truyền nhiễm giữ vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo điều dưỡng. Bệnh truyền nhiễm là nhóm bệnh thường gặp ở mọi quốc gia, đặc biệt tại vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Việt Nam. Tỷ lệ mắc bệnh cao, nhiều vụ dịch xảy ra quanh năm đòi hỏi đội ngũ điều dưỡng viên phải được đào tạo bài bản. Giáo trình giúp sinh viên hiểu rõ cơ chế lây truyền, triệu chứng lâm sàng và quy trình chăm sóc chuẩn. Kiến thức này là nền tảng để điều dưỡng viên thực hành chuyên môn hiệu quả trong thực tế lâm sàng.

1.2. Cấu trúc và phạm vi nội dung giáo trình

Giáo trình được chia thành nhiều bài học, bắt đầu từ đại cương về bệnh truyền nhiễm và phòng chống lây nhiễm trong bệnh viện. Tiếp theo là các biện pháp phòng bệnh trong cộng đồng. Phần chính trình bày chi tiết quy trình chăm sóc từng bệnh cụ thể: cúm, sởi, thủy đậu, quai bị, lỵ amip, tả, thương hàn, tay-chân-miệng, viêm gan B, HIV/AIDS, sốt xuất huyết, sốt rét, uốn ván và bệnh dại. Mỗi bài đều có mục tiêu học tập, nội dung lý thuyết và tình huống lâm sàng để đánh giá năng lực sinh viên.

II. Phân tích nội dung chăm sóc bệnh truyền nhiễm chính

Giáo trình trình bày chi tiết quy trình chăm sóc nhiều bệnh truyền nhiễm phổ biến tại Việt Nam. Đối với bệnh cúm, tài liệu mô tả hai thể bệnh: cúm không biến chứng và cúm có biến chứng. Người bệnh cần được cách ly y tế kịp thời. Thuốc kháng virus được chỉ định dùng càng sớm càng tốt. Bệnh thủy đậu được hướng dẫn chăm sóc từ nhận định ban đầu đến khi bóng nước khô đóng mày. Giáo trình nhấn mạnh việc tránh kiêng nước, kiêng ăn sai lầm trong dân gian. Với bệnh tả, nguyên tắc bù nước và điện giải được đặt lên hàng đầu. Thương hàn yêu cầu theo dõi sát biến chứng xuất huyết tiêu hóa và thủng ruột. Bệnh nhân HIV/AIDS cần chăm sóc toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần. Sốt xuất huyết đòi hỏi theo dõi chặt chẽ dấu hiệu cảnh báo nặng. Mỗi bệnh đều có tình huống lâm sàng để sinh viên rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc.

2.1. Quy trình chăm sóc bệnh nhân cúm và thủy đậu

Bệnh cúm được phân loại theo mức độ nặng nhẹ. Cúm nhẹ điều trị triệu chứng tại nhà. Cúm nặng hoặc có biến chứng cần nhập viện, dùng kháng virus và hồi sức tích cực. Điều dưỡng viên theo dõi nhiệt độ, mạch, huyết áp và nhịp thở thường xuyên. Bệnh thủy đậu lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp. Chăm sóc bao gồm giữ da sạch sẽ, bôi dung dịch sát khuẩn lên nốt phỏng. Giáo trình hướng dẫn tiêm vacxin phòng bệnh cho trẻ từ 12 tháng tuổi. Người lớn chưa miễn dịch tiêm hai liều cách nhau bốn đến tám tuần.

2.2. Chăm sóc bệnh nhân tiêu chảy cấp và sốt xuất huyết

Bệnh tả và lỵ trực khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp nặng. Nguyên tắc điều trị chính là bù nước và điện giải kịp thời. Điều dưỡng viên cần theo dõi lượng dịch mất qua phân và nôn. Truyền dịch tĩnh mạch được chỉ định khi mất nước nặng. Sốt xuất huyết do virus Dengue gây ra. Bệnh diễn biến qua ba giai đoạn: sốt, nguy hiểm và hồi phục. Giai đoạn nguy hiểm thường rơi vào ngày thứ ba đến thứ bảy. Điều dưỡng viên phải theo dõi dấu hiệu cảnh báo: đau bụng vùng gan, nôn nhiều, xuất huyết dưới da, vật vã hoặc lừ đừ.

III. Phương pháp phòng chống lây nhiễm và giáo dục sức khỏe

Giáo trình dành phần quan trọng cho công tác phòng chống lây nhiễm trong bệnh viện và cộng đồng. Ba yếu tố cần thiết để lây truyền bệnh truyền nhiễm gồm: nguồn lây, đường lây và cơ thể cảm nhiễm. Phòng chống lây nhiễm tập trung vào cắt đứt các đường lây: hô hấp, tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp, qua đường máu và qua trung gian côn trùng. Trong bệnh viện, điều dưỡng viên phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cách ly, sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân và khử khuẩn dụng cụ y tế. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và gia đình là nhiệm vụ không thể thiếu. Nội dung bao gồm hướng dẫn cách ly tại nhà, vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng hợp lý và lịch tiêm chủng. Giáo trình nhấn mạnh việc tránh các kinh nghiệm sai lầm trong dân gian như kiêng nước, kiêng ăn quá mức khi mắc bệnh truyền nhiễm.

3.1. Các biện pháp phòng bệnh trong cộng đồng

Phòng bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ. Tiêm chủng mở rộng là biện pháp hiệu quả nhất phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, viêm gan B. Vệ sinh môi trường giúp loại bỏ ổ chứa mầm bệnh và trung gian truyền bệnh. Cung cấp nước sạch và thực phẩm an toàn ngăn ngừa bệnh tiêu hóa. Diệt muỗi phòng sốt rét và sốt xuất huyết. Giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức về triệu chứng bệnh và cách phòng tránh. Phát hiện sớm ca bệnh giúp khoanh vùng xử lý dịch kịp thời, hạn chế lây lan rộng.

3.2. Phòng chống lây nhiễm trong bệnh viện

Phòng chống lây nhiễm bệnh viện là trách nhiệm của toàn bộ nhân viên y tế. Điều dưỡng viên phải thực hiện đúng quy trình rửa tay trước và sau khi tiếp xúc người bệnh. Sử dụng găng tay, khẩu trang, áo choàng khi chăm sóc bệnh nhân truyền nhiễm. Phân loại và xử lý chất thải y tế theo đúng quy định. Khử khuẩn bề mặt và dụng cụ bằng hóa chất chuyên dụng. Người bệnh truyền nhiễm cần được cách ly tại buồng riêng hoặc khu vực riêng. Xử lý đồ vải, giường chiếu bẩn theo quy trình đặc biệt. Theo dõi nhân viên y tế phơi nhiễm để can thiệp sớm.

IV. Ứng dụng giáo trình trong đào tạo và thực hành điều dưỡng

Giáo trình điều dưỡng bệnh truyền nhiễm của ThS. Ngô Thị Huyền được xây dựng với phương pháp học tập dựa trên tình huống lâm sàng thực tế. Mỗi bài học đều có mục tiêu rõ ràng, nội dung lý thuyết và bài tập đánh giá. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng nhận định ban đầu, xác định chẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch can thiệp và đánh giá kết quả. Tình huống lâm sàng trong giáo trình mô tả chi tiết: lý do nhập viện, triệu chứng thực thể, xét nghiệm và y lệnh điều trị. Từ đó sinh viên phải xây dựng kế hoạch chăm sóc toàn diện. Giáo trình cập nhật các hướng dẫn điều trị mới nhất và phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Phương pháp này giúp rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, nâng cao chất lượng đào tạo điều dưỡng viên chuyên ngành bệnh truyền nhiễm.

4.1. Tình huống lâm sàng và kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc

Tình huống lâm sàng là công cụ giáo dục hiệu quả trong giáo trình. Ví dụ, bệnh nhân tám tuổi nhập viện vì mụn nước toàn thân, được chẩn đoán thủy đậu ngày thứ sáu. Sinh viên phải phân tích dữ liệu: sốt cao, nốt phỏng có mủ, không muốn ăn uống. Từ đó xác định các vấn đề ưu tiên: hạ sốt, chăm sóc da, đảm bảo dinh dưỡng và giáo dục sức khỏe cho gia đình. Kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc bao gồm đặt mục tiêu cụ thể, chọn can thiệp phù hợp và xác định tiêu chí đánh giá. Phương pháp này giúp sinh viên tư duy lâm sàng có hệ thống.

4.2. Giá trị thực tiễn và hướng phát triển của giáo trình

Giáo trình có giá trị thực tiễn cao cho đào tạo điều dưỡng tại Việt Nam. Nội dung bám sát thực trạng dịch tễ học trong nước với các bệnh phổ biến như sốt rét, sốt xuất huyết, tay-chân-miệng. Giáo trình cũng đề cập đến bệnh mới nổi và tái nổi, phù hợp xu hướng toàn cầu hóa dịch bệnh. Hướng phát triển cần bổ sung thêm nội dung về kháng kháng sinh, bệnh mới nổi và chăm sóc bệnh nhân tại cộng đồng. Cập nhật phác đồ điều trị theo hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế. Tích hợp thêm bài tập mô phỏng và đánh giá năng lực lâm sàng khách quan.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA ĐIỀU DƯỠNG ThS. Ngô Thị Huyền (Chủ biên) Giáo trình ĐIỀU DƯỠNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM (Tài liệu lưu hành nội bộ) Hà Nội - 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA ĐIỀU DƯỠNG ThS. Ngô Thị Huyền (Chủ biên) Giáo trình ĐIỀU DƯỠNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM (Tài liệu lưu hành nội bộ) Hà Nội – 2021 MỤC LỤC BÀI 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM . PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM TRONG BỆNH VIỆN. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM VÀ NHIỆT ĐỚI TRONG CỘNG ĐỒNG. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CÚM . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SỞI . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH THỦY ĐẬU . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH QUAI BỊ . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH LỴ AMIP . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TẢ . CHĂM SÓC BỆNH NHÂN THƯƠNG HÀN . CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TAY – CHÂN - MIỆNG . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM GAN VIRUS B . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT. CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SỐT RÉT . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UỐN VÁN . CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH DẠI . ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM MỤC TIÊU: 1. Trình bày và giải thích được những khái niệm, đặc điểm chung của bệnh truyền nhiễm. Phân loại được bệnh truyền nhiễm theo đường lây. Kể ba yếu tố cần thiết để chẩn đoán bệnh truyền nhiễm và các phương pháp điều trị bệnh truyền nhiễm. Trình bày được xu thế bệnh truyền nhiễn và nhiệt đới trong giai đoạn hiện nay. Trình bày phương pháp phòng bệnh và công tác chăm sóc người bệnh truyền nhiễm. Vị trí, tầm quan trọng. Trước kia, bệnh truyền nhiễm được xếp chung vào các bệnh nội khoa, từ nửa đầu thế kỷ 19, nó được tách ra thành một chuyên khoa độc lập. Bệnh truyền nhiễm đa số là những bệnh thường gặp ở tất cả các nước trên thế giới. Tuỳ từng vùng địa lý, khí hậu, tuỳ trình độ dân trí và điều kiện sống cùa mỗi vùng mà tỷ lệ mắc bệnh và cơ cấu bệnh tật khác nhau (vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, vùng có điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn lạc hậu thì tỷ lệ mắc bệnh cao và có nhiều bệnh truyền nhiễm hơn). Bệnh truyền nhiễm đều có khả năng lây từ người bệnh sang người lành, nhiều bệnh phát triển thành dịch (thậm chí là đại dịch). Do vậy, số lượng bệnh nhân truyền nhiễm rất đông và số lượng tử vong cũng lớn . Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học nói chung và y học nói riêng, nhiều bệnh truyền nhiễm đã được đẩy lùi, có những bệnh vĩnh viễn bị xoá bỏ (như bệnh đầu mùa.) Tuy vậy, một số bệnh truyền nhiễm còn lan tràn và còn là mối đe doạ cho nhân loại như bệnh sốt rét, viêm gan virus, nhiễm HIV/AIDS. Việt Nam là nước nhiệt đới, điều kiện sống còn thấp, nhiều tập quán sinh hoạt lạc hậu. Vì vậy, bệnh truyền nhiễm chiếm tỷ lệ rất cao, nhiều vụ dịch xảy ra quanh năm (như sốt rét, Dengue xuất huyết, dịch tả, lỵ trực trùng. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Từ cổ xưa, thời Hypocrate, bệnh truyền nhiềm đã được người ta biết đến với tên gọi là “bệnh dịch” để nói lên tính chất nặng và phát triển rộng của bệnh, thời đó người ta cho rằng bệnh có liên quan đến những “khí độc”. Học thuyết về sự lây bệnh từ người 1 bệnh sang người lành được D.Samoilovitra đề xuất vào năm 1974. Từ nửa đầu thế kỷ 19 người ta mới chia bệnh truyền nhiễm thành một chuyên ngành riêng biệt. Tiếp sau là sự phát minh ra kính hiển vi, đã tìm ra những vi khuẩn (mầm bệnh) mà các bác học đi đầu là L. Từ khi kính hiển vi điện tử ra đời, có thể phóng đại gấp hàng chục, hàng trăm nghìn lần đã giúp cho việc tìm ra virus. Một số khái niệm 3. Nhiễm trùng Nhiễm trùng là sự xâm nhập của một vi sinh vật gây bệnh (vi trùng, virus, ký sinh trùng.) vào cơ thể con người. Nhiễm trùng không phải lúc nào cùng bị mắc bệnh, tuy vậy những người lành mang mầm bệnh vẫn có nguy cơ lây truyền bệnh cho người khác khi gặp điều kiện thuận lợi. Quá trình nhiễm trùng Là quá trình tương tác giữa vi sinh vật gây bệnh và cơ thể con người trong những điều kiện nhất định của môi trường xung quanh (điều kiện tự nhiên, xã hội, sinh hoạt. Bệnh truyền nhiễm Bệnh truyền nhiễm là những bệnh nhiễm trùng có khả năng lây truyền từ người bệnh sang người xung quanh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua môi giới trung gian (nước, thức ăn, côn trùng, tay bẩn, đồ dùng. Là nhiễm khuẩn tiên phát, tức là khi cơ thế nhiễm khuẩn lần đầu. Ví dụ: Sốt rét tiên phát. Bệnh tái nhiễm Là mắc lại bệnh đó, do nhiễm lại mầm bệnh (mà trước đã mắc) thêm lần nữa. Bệnh tái phát Là khi bệnh đã ngừng phát triển một thời gian, nhưng bệnh cũ chưa bị tiêu diệt hẳn lại hoạt động trở lại. Ví dụ: Sốt rét tái phát, thương hàn tái phát. Bội nhiễm Khi bệnh truyền nhiễm đang tiến triển, chưa khỏi lại có mầm bệnh khác nhờ điều kiện thuận lợi đó mà xâm nhập gây bệnh nặng thêm thì gọi là bội nhiễm hay nhiễm trùng 2 thứ phát. Nhiễm trùng hỗn hợp Thông thường một bệnh truyền nhiễm chỉ do một mầm bệnh gây ra nhưng cũng có khi lại đồng thời một lúc hai hay nhiều mầm bệnh cùng phối hợp gây bệnh. Khi đó gọi là nhiễm trùng hỗn hợp hay đồng nhiễm. Những đặc điểm của bệnh truyền nhiễm 4. Tính đặc hiệu - Bệnh truyền nhiễm là bệnh do vi sinh gây ra, gọi là mầm bệnh. Mỗi bệnh truyền nhiễm do một loại mầm bệnh gây nên. - Mầm bệnh được xác định bằng xét nghiệm trực tiếp: cấy bệnh phẩm (máu, phân, đờm, nước tiểu .) hay tiêm truyền các bệnh phẩm có mầm bệnh cho súc vật thí nghiệm hoặc gián tiếp bằng cách phát hiện các kháng thể đặc hiệu xuất hiện trong cơ thể như các phương pháp chẩn đoán huyết thanh hoặc tìm dị ứng bằng chứng nghiệm trên da. - Vì vậy mà lâm sàng bệnh truyền nhiễm bao giờ cũng phải gắn liền với vi khuẩn học và ký sinh trùng học. Tính lây truyền - Bệnh truyền nhiễm có khả năng lây truyền từ người bệnh hoặc người mang mầm bệnh sang người lành bằng nhiều đường khác nhau, gọi là quá trình sinh dịch. - Quá trình sinh dịch gồm 3 yếu tố: + Nguồn lây: Người, động vật bị bệnh hoặc mang mầm bệnh. + Đường lây: Các điều kiện ngoại cảnh đảm bảo cho mầm bệnh tồn tại và lan truyền từ nguồn lây đến người tiếp xúc. + Cơ thể cảm thụ: Là cơ thể tiếp nhận mầm bệnh và phát bệnh. Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, các cơ thể sẽ có đáp ứng khác nhau và kết quả là có nhiều hình thái lâm sàng và biểu hiện bệnh khác nhau, phụ thuộc và nhiều yếu tố: + Khả năng miễn dịch. + Địa phương, tập quán sinh hoạt. + Điều kiện kinh tế, xã hội. - Nếu ở trong một tập thể hoặc một địa phương có số lớn người không có miễn dịch đối 3 với mầm bệnh đó, thì dịch sẽ xảy ra. Đó là đặc tính nguy hiểm nhất và quan trọng nhất về mặt xã hội của các bệnh truyền nhiễm. Tính chu kỳ Nói chung các bệnh truyền nhiễm đều phát triển có chu kỳ và trải qua bốn giai đoạn (hay thời kỳ) là: thời kỳ nung bệnh, thời kỳ khởi phát, thời kỳ toàn phát, sau cùng là thời kỳ lui bệnh. Thời kỳ nung bệnh - Từ lúc mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể người cho tới trước khi xuất hiện những triệu chứng lâm sàng đầu tiên. Thời kỳ này, người bệnh thường không cảm thấy có triệu chứng gì và dài ngắn tuỳ theo từng bệnh, có khi rất ngắn (vài giờ ) như bệnh cúm, hoặc rất dài (6 tháng) như bệnh dại. - Thời kỳ này không có gía trị về lâm sàng nhưng về dịch tễ học rất quan trọng vì: + Có những bệnh đã lây ngay từ thời kỳ nung bệnh, ví dụ như bệnh quai bị, do đó rất khó tránh. + Biết được thời kỳ nung bệnh tối đa của một bệnh, ta có thể cách ly và theo dõi những người bị lây trong thời gian đó. Thời kỳ khởi phát. - Là thời kỳ xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh nhưng chưa phải là lúc bệnh nặng và rầm rộ nhất. - Bệnh truyền nhiễm thường khởi phát theo 2 kiểu: từ từ và đột ngột. Hầu hết các bệnh truyền nhiễm đều có sốt và một trong những triệu chứng khởi phát xuất hiện đầu tiên nhất cũng là sốt. Thời kỳ toàn phát - Là lúc bệnh phát triền rầm rộ nhất và thể hiện đầy đủ các triệu chứng nhất, đồng thời cũng là lúc bệnh nhân nặng nhất. Trong cùng một lúc, có thể biểu hiện nhiều triệu chứng ở nhiều cơ quan khác nhau. - Các biến chứng cũng thường xảy ra trong thời kỳ này, vì vậy công tác chăm sóc và theo dõi người bệnh phải hết sức chặt chẽ để kịp thời cấp cứu, xử lý, điều trị, tránh nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh. Thời kỳ lui bệnh - Do sức chống đỡ cùa cơ thể người bệnh tốt, mặt khác do tác động của điều trị, mầm 4 bệnh và các độc tố của chúng dần dần dược loại trừ ra khỏi cơ thể. Người bệnh sẽ cảm thấy đỡ dần. - Những triệu chứng của bệnh ở thời kỳ toàn phát cũng dần dần mất đi. Nếu không được can thiệp sớm và có hiệu lực, một số bệnh diễn biến kéo dài, tái phát với những biến chứng và hậu quả nghiêm trọng. - Sau khi mầm bệnh và độc tố của chúng được loại trừ ra khỏi cơ thể người bệnh thì những cơ quan bị tổn thương dần dần bình phục và trở lại hoạt động hầu như bình thường, có thể có những rối loạn không đáng kể. - Bệnh nhân có thể ra viện về nghỉ ngơi hoặc có thể tiếp tục lao động tuỳ theo khả năng bình phục. Đôi khi chu kỳ có bị thay đổi do sự phát triển của bệnh tối cấp, biến chứng đột ngột hoặc do dùng thuốc. Tính sinh miễn dịch đặc hiệu. - Mầm bệnh vào cơ thể, cơ thể có phản ứng miễn dịch như: thực bào và sinh kháng thể đặc hiệu. - Thời gian và mức độ miễn dịch khác nhau ở từng cơ thể tuỳ theo bệnh. Ví dụ: Bệnh sởi, quai bị, bệnh đậu mùa. tạo miễn dịch mạnh và vững. Bệnh cúm, bệnh lỵ, bệnh sốt rét. tạo miễn dịch yếu và tạm thời. Phân loại bệnh truyền nhiễm. Có nhiều cách phân loại bệnh truyền nhiễm tuỳ theo những quan niệm, mục đích khác nhau. Trong lâm sàng, người ta hay áp dụng cách phân loại bệnh theo đường lây để tiện cách ly, quản lý và đồng thời cũng tiện cho chăm sóc điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ