Chương 1: Tổng quan về hoạt động môi giới của Công ty chứng khoán Chương 2: Thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty Cổ phần chứng khoán MB giai đoạn 2017-2019 Chương 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công ty Cổ phần chứng khoán MB Dé có thé hoàn thành bài viết này, em đã nỗ lực hết khả năng của mình, tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu và viết bài, khó có thé tránh khỏi những thiếu xót, em mong nhận được sự góp ý chân thành từ thầy cô và các anh chị môi giới tại đơn vị thực tập để em có thê hoàn thiện đề tài này hơn. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chi tại phòng môi giới MG7 của công ty cổ phần chứng khoán MB , đã tạo điều kiện dé em luôn được học hỏi, tích luỹ thêm kinh nghiệm trong thời gian vừa qua Em xin chân thành cảm ơn Th.Trần Minh Tuấn đã giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp của mình Em xin chân thành cảm ơn! CHUONG 1: TONG QUAN VE HOẠT ĐỘNG MOI GIỚI CUA CONG TY CHUNG KHOAN 1. Tổng quan về công ty chứng khoán 1. Khai niệm Khái niệm về CTCK có thể tiếp cận theo những cách khác nhau, theo giáo trình TTCK-Trường Dai học Kinh tế Quốc dân (2002) đưa ra khái niệm:”CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK” > Theo quyết định số 04/1998/QĐ-UBCKngày 13/10/1998 của UBCKNN “CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán”.
> Theo quyết định số 27/2007/QD-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng BTC thì CTCK “là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một sỐ hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. > Theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 (sau này được sửabởi Luật số 62/2010/QH12) (2010) [Điều 59, tr50] thì 'CTCK là CTCP, công ty TNHH thành lập theo pháp luật Việt Nam dé kinh doanh theo Giấy phép do UBCKNN cấp.” > Nhu vậy, CTCK được hiểu là một tô chức tài chính trung gian, được thành lập theo pháp luật, thực hiện một và/hoặc một số hoạt động trên TTCK, trên thị trường OTC, đồng thời, họ cũng đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường. Chức năng, vai trò của công ty chứng khoán 1. Chức năng của CTCK > Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành) > Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh) > Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyền từ chứng khoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng) > Góp phần điều tiết và bình ồn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò của nhà tạo lập thị trường) 1.
Vai trò của CTCK Bằng các hoạt động nghiệp vụ được triển khai trên TTCK, CTCK đã thé hiện vai trò quan trọng đối với thị trường nói chung và các chủ thê tham quan trên thị trường nói riêng qua 5 vai trò chính như sau: > CTCK tạo ra cơ chế huy động vốn cho doanh nghiép và nền kinh tế. Nhờ có CTCK mà chứng khoán của các tổ chức phát hành đến được tay các nhà đầu tư bat ké họ ở đâu và được lưu thông trên thị trường. Qua đó một lượng vốn lớn ngày càng được tập hợp từ những nguồn nhỏ lẻ để đưa vào đầu tư phát triển doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung > CTCK góp phan tạo ra sản phẩm và dich vụ mới trên thị trường. Nghiệp vụ môi giới là nghiệp vụ mà ở đó nhà môi gới của công ty có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hang và phản ánh với bộ phận có chức năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm của công ty đề từ đó cho ra đời các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu của khách hang.
Do đó, nghiệp vụ môi giới là một trong những kênh cung cấp những ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo nhu cầu của khách hang. Kết quả của quá trình đó là tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ, đa dạng hoá cơ cau khách hang và với phí dịch vụ thấp sẽ ngày càng thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư > CTCK góp phần giảm chi phí giao dịch, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư cho các nhà đầu tư. Việc mua bán chứng khoán thông qua CTCK sẽ giúp các NĐT giảm được đáng ké chi phi tim kiếm đối tác, nhờ đó tiết kiệm được chi phí giao dịch, xét cho từng giao dịch cụ thể cũng như trên tổng thể thị trường và giúp nâng cao tính thanh khoản của chứng khoán. Đồng thời, giúp các NDT giảm được rủi ro trong quá trình mua bán chứng khoán, các NDT khi mua được dam bảo sẽ nhận được chứng khoán thật, đối với NDT bán sẽ được đảm bảo nhận được tiền sau khi giao chứng khoán.
> Ngoài ra, CTCK còn giúp các NĐT tìm kiếm các cơ hội đầu tư có hiệu quả, tham gia thị trường một cách thuận lợi và góp phần hình thành nên một nền văn hoá đầu tư chứng khoán. Với việc tìm kiếm và giúp đỡ những nhà đầu tư không có kiến thức và thời gian, khuyến khích họ tham gia thị trường, CTCK đã góp phần thực hiện được một số điều quan trọng nhất của thị trường đó là kích cầu chứng khoán 1. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán 1. Các nghiệp vụ cơ bản của CTCK: Theo giáo trình TTCK, Đại học Kinh tế Quốc dân, CTCK có 5 nghiệp vụ chính: > Nghiệp vụ môi giới chứng khoán: được xem là nghiệp vụ xuất hiện đầu tiên đồng thời là nghiệp vụ cơ bản nhất trong số các nghiệp vụ mà một CTCK tiến hành triển khai.
Thông qua nghiệp vụ môi giới, CTCK sẽ đảm đương vai trò là nhà trung gian giúp cho NĐT thực hiện việc mua bán chứng khoán. CTCK với lợi thế có mạng lưới thông tin rộng khắp trên cả thị trường chính thức lẫn phi chính thức có thể cung cấp cho NDT một bức tranh toàn cảnh về TTCK và giúp khách hang có thé mua bán được chứng khoán ở bat kỳ thị trường nào. Như vậy, nghiệp vụ môi giới chứng khoán là nghiệp vụ kết nói giữa những người cần mua và những người cần bán chứng khoán. Sau mỗi giao dịch mua bán chứng khoán được thành công, cả bên mua và bên bán đều trả cho CTCK một khoản tiền, khoản tiền này được gọi là phí môi giới giao dịch.
Cách tính phí môi giới giao dịch tuỳ theo việc CTCK tiến hành mua bán hộ chứng khoán cho khách hàng trên thị trường nào. Nếu mua bán chứng hoán trên thị trường chính thức (SGD), thông thường phí môi giới giao dịch sẽ được tính là một tỉ lệ phần tram trên tổng giá trị giao dịch. Nếu trên thị trường phi chính thức (OTC), phí giao dịch được tính kèm vào giá. > Nghiệp vụ tự doanh: Nghiệp vụ tự doanh của CTCK chính là quá trình các CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường cho chính công ty mình.
Nghiệp vụ này được coi là một hoạt động đầu tư kiếm lời của công ty vì nó được thực hiện với mục tiêu lớn nhất là thu về lợi nhuận cho chính nó thông qua hoạt động mua bán chứng khoán với khách hàng trên thị trường. Nghiệp vụ tự doanh được hoạt động song song với nghiệp vụ môi giới, trong quá trình thực hiện lệnh giao dịch cho khách hàng, CTCK cũng có thể phục vụ lệnh cho chính mình. Nghiệp vụ tự doanh được CTCK thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường phi tập trung (OTC). Đặc biệt, trên thị tường OTC, hoạt động tự doanh của CTCK có thé được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường, khi đó, CTCK nắm nhiệm vụ là một nhà tạo lập thị trường, họ sẽ nắm giữ một SỐ lượng chứng khoán nhất định và thực hiện mua và bán các loại chứng khoán với các NĐT trên thị trường đề thu về lợi nhuận từ chênh lệch giá.
Ở Việt Nam hiện nay thì chỉ có một số CTCK triển khai nghiệp vụ này vì pháp luật của nước ta hiện nay quy định nếu muốn thực hiện nghiệp vụ này thì CTCK phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, trong đó điều kiện tiên quyết là CTCK phải có vốn điều lệ tối thiêu 12 tỷ. Quy định này cũng gây ra một số điều bat lợi đối với các CTCK không có đủ điều kiện về vốn nhưng lại sở hữu đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và khả năng phân tích cao. > Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành: Là hoạt động thực hiện các đợt chào bán va giúp các doanh nghiệp cô phần hóa phân phối chứng khoán ra công chúng đồng thời thực hiện luôn hoạt động bảo lãnh. Trên TTCK, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành được coi là một trong những nghiệp vụ phô biến nhất ở các CTCK, hỗ trợ cho các tô chức phát hành hoàn thành các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng, giúp doanh nghiệp việc phân phối chứng khoán và tác động vào việc làm bình 6n giá chứng khoán trong khoảng thời gian đầu tiên sau khi phát hành.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay mới chỉ có một số CTCK có ngân hàng mẹ có nguồn lực tiềm chính tốt cũng như các quan hệ sẵn có mới có khả năng và đang thực hiện nghiệp vụ này. > Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách hàng có nhu cầu đầu tư vào TTCK thông qua danh mục đầu tư với mục đích tạo ra lợi nhuận và bảo toàn nguồn vốn cho khách hàng. Đề thực hiện tốt nghiệp vụ nay, CTCK đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên lành nghề, có trình độ chuyên môn cao cũng như có nhiêu kinh nghiệm trong lĩnh vực đâu tư và phân bô vôn. > Nghiệp vụ tư van đầu tư chứng khoán: Là việc CTCK thông qua công tác tìm hiểu và phân tích dé đưa ra các lời khuyên hữu ích cho khách hàng, phân tích các tình huống có thé xảy ra và đồng thời có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan mà có thé thực hiện hoặc do khách hàng yêu cầu.