CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NÂNG CAO HIỆU QUA KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu ở doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Theo khoản 21 Điều 04 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã công bố: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản pham hoặc cung ứng dich vu trên thi trường nhằm mục đích tìm kiếm sự sinh lời”. Đối với nền kinh thế thị trường mở như hiện nay, mục tiêu chính của hầu hết các doanh nghiệp là làm sao để có thé mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho công ty.
Đề đạt được mục tiêu đó, các loại hình doanh nghiệp cần lên kế hoạch và thực hiện các chiến lược kinh doanh được đưa ra phù hợp với hoàn cảnh và tình hình thay đổi của môi trường kinh doanh. Đồng thời, họ cần tối ưu hóa sử dụng nguồn lực của minh dé đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Các hoạt động kinh doanh cần được kiểm tra, phân tích và đánh giá thường xuyên dé đảm bao rang chúng đang diễn ra một cách hiệu quả và đem lại kết qua tốt nhất cho doanh nghiệp. Hiệu quả là mức độ đạt được kết quả mong muốn với số lượng tài nguyên bỏ ra là thấp nhất.
“Hiệu qua là sự so sánh kết qua dau ra và yếu tố nguồn lực dau vào ”. Sự so sánh này vừa mang tinh chất tương đối, vừa mang tính chất tuyệt đối. Doanh thu, lợi nhuận tường được coi là kết quả đầu. Trong khi đó các yếu tố nguồn lực đầu vào có thể là một hoặc nhiều tiêu chí như lao động, tài sản, chi phí hay nguôn vôn.
Hiện nay, có nhiêu quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh và dưới đây là một sô khái niệm được các nhà nghiên cứu đưa ra như sau: Quan điểm thứ nhất, của Adam Smith (1776) đưa ra quan điểm: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Theo định nghĩa này, có thể nhận thấy ý nghĩa của hiệu quả kinh doanh tương đương với kêt quả kinh doanh và định nghĩa hiệu quả kinh doanh dựa hoàn toàn vào lượng doanh thu từ việc bán sản phẩm. Tuy nhiên, quan điểm nay có hạn chế là yếu tô chi phi đã không được tính đến, gây khó khăn trong việc phân biệt rõ ràng giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh. Quan điểm thứ hai, Paul A.
Samuelson, trong cuốn Kinh tế học xuất bản năn 1948 đã viết: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế dé thỏa mãn nhu cau, mong muốn của con người”. Theo nhận định trên, Paul A. Samuelson chỉ ra được đặc điểm nỗi bật của hiệu quả đó chính là phương thức tối ưu hóa các nguồn lực. Nhưng quan điểm của nhà nghiên cứu này chưa thể đưa ra được cách xác định hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm thứ ba, tac giả Phan Quang Niệm (2008) cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm chuyên môn được dé cập phía trước đã chỉ ra mối liên kết quan trọng giữa doanh thu và chỉ phí trong hoạt động kinh doanh, cho phép đánh giá lợi nhuận hoặc lỗ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quan điểm này chưa thé phản ánh mối tương quan giữa chi phí sử dụng và kết qua thu được, một yếu tố quan trọng khác đề đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu. Quan điểm thứ tư, theo Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực dé đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định.
Chi các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh”. Hiệu quả kinh doanh luôn liên quan đến khái niệm lợi nhuận, có công thức tính bằng ty lệ giữa kết qua đạt được và chi phí phải bỏ ra dé đạt được kết quả đó. Tuy nhiên, dé đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, yếu tố quản lý sản xuất đóng vai trò quan trọng (Trương Bá Thanh, 2009). Quan điểm thứ năm, ông Nguyễn Văn Phúc (2016) đã đưa ra nhận định: “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra dé đạt được kết quả đó, được thê hiện thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp”.
Tại đây chúng ta cần phải phân biệt rõ giữa hai khái niệm đó là kết quả kinh doanh với hiệu quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh thường được tinh toán dựa trên các chỉ tiêu như tổng doanh thu, lợi nhuận, tong sản lượng tiêu thụ trong một khoảng thời gian xác định. Trong khi đó, hiệu quả kinh doanh phản ánh mức độ sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp, được tính bằng tỷ lệ giữa kết quả thu được và chỉ phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan điểm thứ sáu, theo Dương Thu Minh (2017): “Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh: So sánh giữa dau vào va dau ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được”.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế được tổng hợp lại nhằm phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Cùng với sự áp dụng khéo léo, tư duy có chiến lược của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý thuyết và tình huống thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất để tối ưu lợi nhuận một cách tốt nhất. Như vậy, có thê kết luận rằng: “Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yêu tố, nguồn lực đầu vào dé tạo ra kết quả đó”. Trong đó, các yếu tô va nguồn lực đầu vào quan trọng bao gồm vốn, tài sản, lao động và chỉ phí.
Các kết quả đầu ra quan trọng được đo lường bằng tổng doanh thu, lợi nhuận và giá trị tong sản lượng tiêu thụ. Việc sử dụng các nguồn lực đầu vào hiệu quả sẽ gitip tối đa hóa các kết quả đầu ra, đảm bảo tăng trưởng và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, việc quản lý, tối ưu hóa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào là yếu tố quan trọng đối với sự thành công của một doanh nghiệp. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nhập khẩu với mục tiêu tăng lợi nhuận, và dé đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khâu trong quá trình nhập khâu hàng hóa, doanh nghiệp cần có cái nhìn tổng quan về quá trình nhập khẩu, đánh giá các mục tiêu được đề ra ban đầu, những thành tựu và xác định những hạn chế cần khắc phục và cải thiện.
Điều này giúp doanh nghiệp tôi ưu hóa được quy trình kinh doanh, đảm bảo các hoạt động tại công ty diễn ra không gián đoạn. Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khâu là cần thiết để giúp doanh nghiệp năm bắt được các thời cơ kinh doanh, cạnh tranh hiệu quả và đáp ứng yêu câu của khách hàng. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanhh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực, trình độ của tô chức, quan lý của doanh nghiệp dé đạt được mục tiêu kinh tế — xã hội, các mục tiêu riêng của doanh nghiệp đã được xác định, lên kế hoạch từ trước. Hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất khi lợi nhuận gia tăng với kết quả đạt được là tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiéu.
Về mặt định tính, phạm trù phản ánh trình độ doanh nghiệp sử dụng nguồn lực của mình trong quá trình nhập khẩu dé đáp ứng được nhu cầu của thị trường và đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã lên kế hoạch từ trước, đó là hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Một cách định lượng, chỉ số thé hiện mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh khi nhập khẩu và chi phí phát sinh từ việc nhập khẩu trong các điều kiện nhất định được coi là hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu qua, Dé đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp cần sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân loại thành hai loại: - _ Hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp - Hệ thống chỉ tiêu bộ phận Dựa vào các loại chỉ tiêu này, vào mỗi kỳ đánh giá, công ty sẽ có những nhận xét và đưa ra các quyết định kịp thời dé điều chỉnh phương án kinh doanh dé có thê thích ứng với những biến động trong hoạt động kinh doanh. Sự kết hợp giữa các chỉ tiêu tong hợp và chỉ tiêu bộ phận là cần thiết dé đánh giá một cách khách quan nhất về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Việc phân tích chi phí tổng hợp và chi phí bộ phận là không thé thiếu đối với bat kỳ công ty nào bởi nó là các yếu tô quan trọng dé công ty cân nhắc, xem xét điều chỉnh quy trình hoạt động nội bộ dé nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Hệ thống các chỉ tiêu tổng hop * Chỉ tiêu về lợi nhuận nhập khẩu Chỉ tiêu này đo quy mô hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Nó biểu thị thành quả cuối cùng của cả quá trình kinh doanh, từ đó doanh nghiệp sẽ có các quyết định sử dụng nguồn lợi nhuận này dé tái đầu tư, mở rộng hoặc thu hẹp quy mô kinh doanh hoặc nâng cao mức sống của lao động, công nhân viên chức. Chung quy lại là dé đưa ra các quyết định phù hợp đề phát triển và nâng cao lợi thế của mình.
Lợi nhuận càng cao lợi thế càng lớn và ngược lại. Lợi nhuận = Doanh thu — Chỉ phí Trong đó: - Loi nhuận là khoản lợi nhuận kiếm từ nhập khẩu được tính toán trong một thời kỳ kinh doanh - _ Doanh thu là khoản tiền công ty bán được hàng nhập khẩu ở thị trường nội địa sau khi khấu trừ các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu, hàng bán bị trả lại.