Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho nhân viên môi giới bất động sản trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho nhân viên môi giới bất động sản tại Công ty Cô phần Thương mại Địa ốc 5 Sao Chương 3: Một số giải pháp tạo động lực làm việc cho nhân viên môi giới bat động sản tại Công ty Cé phần Thương mại Địa ốc 5 Sao CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TẠO ĐỘNG LUC LAM VIỆC CHO NHÂN VIÊN MÔI GIỚI BÁT ĐỘNG SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân viên môi giới bất động sản Trước hết, ta can hiểu môi giới bắt động sản là gì? Môi giới là hoạt động của người thứ ba với mục đích tạo sự thông cảm, thấu hiểu trong việc giải quyết các vấn đề hoặc công việc có liên quan giữa các bên với nhau. Môi giới bất động sản là hoạt động của người, tô chức trung gian có đủ năng lực dé giải quyết các quan hệ giao dịch về bat động sản nhằm kết nối các thương vụ giao dịch về bất động sản.
Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 đã xác định môi giới bat động sản như sau: “Môi giới bat động sản là việc làm trung gian cho các bên trong mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bắt động sản ”. Vậy trong doanh nghiệp, nhân viên môi giới bat động sản có vai trò như thé nào? Nhân viên môi giới bất động sản hay còn gọi là nhân viên kinh doanh bất động sản là đội ngũ nhân lực không thể thiếu và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các doanh nghiệp bất động sản cũng như thúc day doanh số tạo ra lợi nhuận nuôi sống doanh nghiệp. Bởi họ là người kết nối giữa người mua và người bán bất động sản và nhờ có họ mà các giao dịch bất động sản trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn, hiệu qua, ít rủi ro. Họ có thể là người tìm kiếm khách hàng, giới thiệu, tư van và thuyết phục khách hàng mua sản phẩm bat động sản mà doanh nghiệp dang ban hoặc có thê là người thực hiện công việc chăm sóc khách hàng đã và đang mua bất động sản của doanh nghiệp.
Đồng thời, họ sẽ giúp người mua chọn lựa được một căn nhà phù hợp với tài chính và nhu cầu cuộc sống, giúp người bán bán được với mức giá tốt nhất và hơn cả sẽ hỗ trợ người mua trong các thủ tục giấy tờ khi ký hợp đồng mua bán bất động sản. Mặt khác, nhân viên môi giới bất động sản sẽ là người tìm ra hướng giải quyết các quan hệ mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng, đảm bảo tối đa lợi ích cho khách hàng. Nhân viên môi giới chuyên nghiệp cần có trách nhiệm đối với việc cung cấp thông tin, đặc biệt là phải đặt đạo đức nghé nghiệp lên hàng đầu. Những thông tin mà môi giới cung cấp cho khách hàng phải đầy đủ, chính xác, công khai.
Do đó, đội ngũ môi giới góp phần làm thị trường bất động sản phát triển bền vững, lành mạnh. Động lực làm việc Động lực làm việc không phải chủ đề mới mà đã được nhiều học giả ở trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy mỗi khái niệm thể hiện một quan điểm riêng nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực làm việc. Điển hình, theo quan điểm của Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “ Động lực của người lao động là những nhân to bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong diéu kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.
Bên cạnh thuật ngữ động lực lao động cũng ton tại một số thuật ngữ động lực làm việc nhưng về bản chất thì chúng không khác nhau là mấy. Còn theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014): “ Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động dé tăng cường nỗ lực, nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chic”. Theo Carr (2005): “Đồng lực làm việc la một sự thúc day từ bên trong, dựa trên nên tảng là các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của 1 cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt cá nhân làm việc để đạt được mục tiêu”. Mitchell (1982) cho rằng: “Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tinh, định hướng va kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu”.
Robbins (1998) định nghĩa: “Động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ”. Higgins và Trope (1990) giải thích: “Động lực là lực day từ bên trong cá nhân dé đáp ứng các nhu cau chưa được thỏa man. Động lực là quả trình đạt tới một mục tiêu đã đề ra thông qua nỗ lực, định hướng và kiên tri (Judge, Robbins, 2019)”. Như đã dé cập ở trên, mặc du có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực làm việc nhưng nội hàm của chúng đều hướng đến sự khao khát và tự nguyện, nỗ lực làm việc của người lao động.
Do đó, ta có thể hiểu “Động luc làm việc là việc tự nguyện, khát khao, có gang làm việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân trong sự phù hợp với mục tiêu của tổ chức”. Như vậy, động lực làm việc được thể hiện trong chính thái độ, trách nhiệm của người lao động đối với công việc, đôi với tô chức. Môi người lao động được phân công những công việc khác nhau sẽ có những động lực làm việc khác nhau dé có thé làm việc nhiệt huyết, tích cực hơn. Trong thực tiễn, người lao động không có động lực làm việc thì vẫn có thé hoàn thành công việc nhưng có thể thấy được sự gắn bó của họ chưa chắc đã bền vững.
Dé có được động lực làm việc thì phải tìm ra các biện pháp có được động lực đó bằng cách tìm hiểu xem bản thân người lao động làm việc vi điều gì, lợi ích của họ chỉ đạt được khi lợi ích của doanh nghiệp đạt được. Tạo động lực làm việc Theo như các khái niệm về động lực làm việc ở trên, dé có được động lực làm việc trước tiên phải xem xét mong muốn, nhu cầu trên nhiều khía cạnh từ đó làm thỏa mãn nhu cầu thúc đây con người hành động có mục tiêu cụ thể. Nói cách khác, vấn đề tạo động lực đều xoay quanh vấn đề xem xét nhu cầu của con người. Khi không đáp ứng được nhu cầu của người lao động sẽ dẫn đến trạng thái căng thang, mệt mỏi không muốn làm việc.
Vì vậy, các nhà quản trị trong doanh nghiệp muốn phát triển doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải có những biện pháp khuyến khích người lao động làm việc hăng say, phát huy được giá trị của bản thân mình. Các biện pháp khuyến khích về cả tinh thần lẫn vật chất, tạo ra bầu không khí làm việc thi đua có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Tạo động lực làm việc không những giúp tiết kiệm tối đa thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp mà còn gia tăng được hiệu quả làm việc cho nhân viên. Theo Lê Thanh Hà (2009) và Nguyễn Thị Hồng (2020) thì tạo động lực làm việc là “Tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện cua người lao động có gắng phan dau đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tỉnh than, còn cách ứng xử của tô chức được thể hiện ở việc tổ chức đó đối xử đối với người lao động như thé nào”. Như vậy có thê hiểu “Tao động lực được biểu hiện là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tô chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”, thúc đây họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phan đấu dé dat được cac muc tiéu cua ban than va tô chức. Qua đó ta rút ra được: Tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp là cả một quá trình gồm các bước cơ bản xây dựng, triển khai thực hiện các chương trình tạo động lực và đánh giá kết quả tạo động lực nhằm tạo ra, duy trì và phát huy động lực của người lao động. Vai trò của tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp Tạo động lực làm việc có vai trò vô cùng quan trọng trong quản trị nhân lực của doanh nghiệp.
Khi có động lực làm việc thì năng suất lao động sẽ tăng lên, hiệu quả công việc đạt ở mức cao nhất, làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động và họ gắn bó lâu dài với công ty hơn. Sức mạnh vô hình, thúc đây người lao động làm việc hăng say chính là động lực làm việc. Việc tạo động lực làm việc sẽ giúp người lao động không ngừng cố gắng hoàn thiện bản thân mình tốt hơn, phát huy sự sáng tạo của người lao động. Người lao động có động lực làm việc sẽ dồn hết tâm trí vào công việc, từ đó sẽ hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Mặc dù động lực làm việc có vai trò quan trọng trong tăng năng suất lao động nhưng không phải là điều kiện quyết định đến tăng năng suất lao động, bởi vì nó còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trang thiết bị, khoa học công nghệ, dây chuyền sản xuất. Công ty nào tạo động lực làm việc cao cho người lao động, thì hiệu quả công việc sẽ cao, tăng tính cạnh tranh hơn so với đối thủ trên thị trường. Động lực làm việc đã nồi lên như một trong những hành vi quan trong của tổ chức ảnh hưởng đến hiệu suất trong công việc. Ngoài ra, tạo động lực làm việc gián tiếp xây dựng xã hội càng ngày phát triển hơn dựa vào sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp bởi lẽ mỗi cá nhân hay doanh nghiệp đều là thành viên của xã hội.
Tạo động lực làm việc giúp các cá nhân trong xã hội đạt được mục tiêu mà mình đặt ra, từ đó hình thành nên giá trị xã hội mới. Các học thuyết về tạo động lực làm việc 1.