CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Khái quát về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm, ý nghĩa và sự cần thiết phải hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm “Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.
Sự thay đổi này đã làm thay đổi mạnh mẽ nền kinh tế. Để duy trì và phát triển doanh nghiệp của mình thì trước hết đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả”.110] “Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, không chỉ là mối quan tâm của bất kỳ ai mà là mối quan tâm của tất cả mọi người, mọi doanh nghiệp. Đó cũng là vấn đề bao trùm và xuyên suốt, thể hiện trong công tác quản lý, bởi suy cho cùng quản lý kinh tế là để đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tất cả những cải tiến, những đổi mới về nội dung, phương pháp, biện pháp áp dụng trong quản lý chỉ thực sự đem lại ý nghĩa khi chúng làm tăng được hiệu quả kinh doanh, không những là thước đo về chất lượng, phản ánh tổ chức, quản lý kinh doanh, mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn tồn tại và vươn lên thì trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện tái sản xuất mở rộng, đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại. Kinh doanh có hiệu quả là tiền đề nâng cao phúc lợi cho người lao động, kích thích người lao động tăng năng suất lao động và là điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh”.110] Như vậy “hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất.110] 5 Để xác định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, người ta thường so sánh kết quả hữu ích cuối cùng đạt được với lượng chi phí xã hội bỏ ra. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xét trên phạm vi toàn xã hội, được đặc trưng bởi năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân.
Với đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam, hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh càng phải được xem xét trên quan điểm toàn diện. Tính toàn diện ở đây xét trên góc độ khác nhau nhưng nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau: không gian và thời gian, số lượng và chất lượng. Về mặt không gian: đơn vị có hiệu quả kinh tế hay không phụ thuộc vào hiệu quả của hoạt động kinh tế cụ thể và hiệu quả kinh tế của hệ thống mà nó quan hệ. Xét trên quan điểm hệ thống, hiệu quả sản xuất kinh doanh phải xét trong mối quan hệ biện chứng giữa ngành kinh tế này với ngành kinh tế khác và với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, giữa từng phần tử với toàn hệ thống, giữa hoạt động kinh tế với các hoạt động phi kinh tế, giữa lợi ích kinh tế với những tác động về mặt xã hội, an ninh, quốc phòng, chính trị … Vì thế, hiệu quả kinh tế do một biện pháp mang lại phải được đặt trong mối quan hệ khác, như: có làm phương hại đến hiệu quả chung của xã hội trong hiện tại, tương lai và hiệu quả đồng thời của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế quốc dân hay không? Có như thế thì hiệu quả đó mới trở thành mục tiêu phấn đấu hoặc trở thành tiêu chuẩn đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh.
Về mặt thời gian: sự toàn diện của hiệu quả đạt được trong thời kỳ hay nói đúng hơn là trong từng thời kỳ, từng giai đoạn sản xuất kinh doanh với thời lượng cơ bản như: tháng, quý, năm… không được làm giảm sút hiệu quả trong thời kỳ dài hoặc hiệu quả sản xuất kinh doanh của chu kỳ trước hay giai đoạn trước, cũng không hạ thấp hiệu quả của chu kỳ sau hay giai đoạn sau. Thực tế đã cho thấy nhiều nơi trong nhiều năm do chỉ thấy lợi ích trước mắt đã là tổn hại nghiêm trọng đến các lợi ích lâu dài và đặc biệt quan trọng là 6 làm tổn hại đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, tài sản cố định, nguồn nhân lực… Như thế hiệu quả mang lại quá nhỏ so với những chi phí khổng lồ bỏ ra cho việc khôi phục lại nguồn tài nguyên, cân bằng sinh thái, hiện đại hóa tài sản cố định, nâng cao chất lượng sống của người lao động. Có những hiệu quả phải trả giá quá đắt mà tiền bạc, vật chất không thể bù đắp được, nhất là ảnh hưởng đến mặt xã hội, truyền thống dân tộc, tập tục văn hóa… Về mặt số lượng: hiệu quả kinh tế phải được thể hiện trong mối tương quan giữa chi và thu theo chiều hướng giảm chi và tăng thu. Đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế thì hao phí xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân phải được tăng chậm hơn so với mức tăng tổng sản phẩm xã hội.
Về mặt chất lượng (định tính): hiệu quả kinh tế phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với hiệu quả về mặt chính trị, xã hội. Mối quan hệ này trở thành nhân tố quan trọng có tính chất quyết định khi chọn lựa một biện pháp kinh tế nào đó. Ý nghĩa “- Qua phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đánh giá trình độ khai thác và tiết kiệm các nguồn lực đã có. - Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo cơ sở cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất.
- Sản xuất kinh doanh phát triển với tốc độ cao. - Trên cơ sở đó doanh nghiệp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong quá trình sản xuất, đề ra các biện pháp nhằm khai thác mọi khả năng tiềm tàng để phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh, tăng tích luỹ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động”. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày người ta càng sử dụng nhiều nguồn lực vào các hoạt động sản xuất phục vụ 7 các nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không giới hạn.
Điều này phản ánh quy luật khan hiếm. Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm (dịch vụ) với số lượng và chất lượng phù hợp. Mọi doanh nghiệp trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường - tức là kinh doanh không có hiệu quả, lãng phí nguồn lực xã hội - sẽ không có khả năng tồn tại. Mọi doanh nghiệp kinh doanh trong thị trường mở phải chấp nhận cạnh tranh và đứng vững trong cạnh tranh.
Muốn vậy doanh nghiệp phải luôn tạo và duy trì các lợi thế cạnh tranh: chất lượng và sự khác biệt hóa, giá cả và tốc độ cung ứng. Để duy trì lợi thế về giá cả doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp mới có khả năng đạt được điều này. Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận.
Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm (dịch vụ) cung cấp cho thị trường. Muốn vậy doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được lợi nhuận bấy nhiêu. Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh còn là biểu hiện của việc lựa chọn phương án kinh doanh.
Doanh nghiệp phải tự lựa chọn phương án kinh doanh của mình cho phù hợp với trình độ của doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp buộc phải sử dụng tối ưu nguồn lực sẵn có. Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó bằng cách nào để có hiệu quả nhất lại là một bài toán mà nhà quản trị phải lựa chọn cách giải. Chính vì vậy 8 ta có thể nói rằng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh không chỉ là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của mình mà còn là thước đo trình độ của nhà quản trị.
Phân loại hiệu quả kinh doanh Đây là một việc làm hết sức thiết thực, nó là phương cách để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả mà mình đạt được và là cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lược, kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc điều hành tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. - Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân: Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và chất lượng thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra cho nó.
Hiệu quả kinh tế quốc dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.