SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN =====***===== BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến kinh nghiệm: “Một số chuyên đề bồi dưỡng HSG hóa 10” Tác giả sáng kiến: La Thị Thu Thùy Mã sáng kiến: 19.02 Vĩnh Phúc năm 2021 skkn BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Chúng ta đang bước vào giai đoạn quyết định của thời kì công nghiệp hoá – hiện đại hoá, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật, sự bùng nổ của công nghệ cao, trong xu thế toàn cầu hóa, việc chuẩn bị và đầu tư vào con người nhằm tạo ra những con người có đủ năng lực trình độ để nắm bắt khoa học kỹ thuật, đủ bản lĩnh để làm chủ vận mệnh đất nước là vấn đề sống còn của quốc gia. “Nâng cao dân trí - Đào tạo nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài” luôn là nhiệm vụ trung tâm của giáo dục - đào tạo. Trong đó việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về các môn học ở bậc học phổ thông chính là bước khởi đầu quan trọng để góp phần đào tạo các em thành những người đi đầu trong các lĩnh vực của khoa học và đời sống.
Vì lẽ đó nên công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ tất yếu của mỗi nhà trường, mỗi giáo viên. Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa nằm trong nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng nhân tài chung của giáo dục phổ thông và là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi giáo viên dạy Hóa học. Có làm tốt điều đó mới có thể đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các trường chuyên ngày càng được nâng cao hơn, tiếp cận được với chương trình dạy học quốc tế tốt hơn. Và việc sử dụng bài tập Hoá học là một trong các phương pháp dạy học quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Đối với học sinh giải bài tập là một phương pháp học tập tích cực. Chính vì vậy giáo viên cần tự biên soạn tài liệu dùng để dạy chuyên cho học sinh. Với nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh trong đội tuyển Hoá học 10, tôi nhận thấy học sinh còn chưa chắc về lý thuyết, lúng túng khi giải một số bài tập. Trong khi đó, hóa học lớp 10 là nền tảng, cơ sở để các em học hóa trong các năm tiếp theo.
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Một số chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi hóa 10”. Tên sáng kiến: “Một số chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi hóa 10” 3. Tác giả sáng kiến: - Họ và tên: La Thị Thu Thùy - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Bình Sơn –Sông Lô – Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0369947089 - Email: lathithuthuy89@gmail.
Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến: La Thị Thu Thùy 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến. - Sáng kiến được áp dụng vào giảng dạy đội tuyển học sinh giỏi Hóa lớp 10 Trường THPT Bình Sơn 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 9 năm 2018 7.
Mô tả bản chất của sáng kiến: 7. 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN Nét đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay, người giáo viên đặt người học vào đúng vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức, làm cho học sinh hoạt động trong giờ học, rèn luyện cho học sinh tập giải quyết các vấn đề của khoa học từ dễ đến khó, có như vậy học sinh mới có điều kiện tốt để tiếp thu và vận dụng kiến thức một các chủ động sáng tạo. Trong dạy học hóa học, bài tập hóa học là nguồn quan trọng để học sinh thu nhận kiến thức, củng cố khắc sâu những lí thuyết đã học phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, nâng cao năng lực nhận thức. Đa số học sinh chuyên hoá hiện nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân loại và tìm ra phương pháp giải phù nhất là đối với những bài toán nâng cao vì vậy học sinh cần nắm được bản chất hóa học và giải nhiều bài tập để có thể tự rút kinh nghiệm cho bản thân.
Tác dụng của bài tập hoá học - Phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. - Giúp học sinh hiểu rõ và khắc sâu kiến thức. - Hệ thống hoá các kiến thức, cung cấp thêm kiến thức mới, mở rộng hiểu biết của học sinh về các vấn đề thực tiễn đời sống và sản xuất hoá học. - Rèn luyện được một số kỹ năng:các tính toán đại số, phán đoán, độ nhạy cảm bài toán,.
- Rèn cho học sinh tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận, chính xác khoa học,. Điều kiện để học sinh giải bài tập được tốt - Nắm chắc lý thuyết: các định luật, quy tắc, các quá trình hoá học, tính chất lý hoá học của các chất,. - Nắm được các dạng bài tập cơ bản. Nhanh chóng xác định bài tập cần giải thuộc dạng bài tập nào.
skkn - Nắm được một số phương pháp thích hợp với từng dạng bài tập. Một số phương pháp giải toán hóa học vô cơ ở THPT - Phương pháp bảo toàn: + Bảo toàn điện tích. + Bảo toàn khối lượng. + Bảo toàn nguyên tố.
+ Bảo toàn electron. - Phương pháp đại số. - Phương pháp trung bình. - Phương pháp ghép ẩn số.
- Phương pháp tăng giảm khối lượng. - Phương pháp đường chéo. - Phương pháp biện luận. Ý nghĩa tác dụng của việc sử dụng bài tập hóa học Việc dạy học không thể thiếu bài tập.
Sử dụng bài tập để luyện tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Bài tập hóa học có ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt : Ý nghĩa trí dục: + Làm chính xác hóa khái niệm hóa học, củng cố đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. + Ôn tập hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất. + Rèn luyện các kỹ năng hóa học như: cân bằng, tính toán theo phương trình hoá học,… Ý nghĩa phát triển: Phát triển ở học sinh ở năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo.
Ý nghĩa giáo dục: Rèn luyện đức tính kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động. CƠ SỞ THỰC TIỄN Trong những năm gần đây, việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi gặp không ít khó khăn. Đa số học sinh chẳng mặn mà gì việc thi vào các đội tuyển bởi một suy nghĩ đơn giản rằng: mình bỏ ra một quỹ thời gian không ít mà thành tích đạt chưa cao.
Còn như với quỹ skkn thời gian đó nếu dành cho việc học chính khóa để được học sinh giỏi hay học thi đại học,. thì hiệu quả hơn nhiều. Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như: - Mục tiêu của phụ huynh và học sinh chuyên là đỗ đại học có danh tiếng trong nước hoặc đầu tư vào việc đi du học. - Tâm lý phụ huynh không muốn con em mình bị áp lực trong việc học thi vào đội tuyển.
- Đầu tư nhiều thời gian cho một môn chuyên. - Nguồn tài liệu tham khảo để bồi dưỡng học sinh còn thiếu. - Giáo viên chưa có kinh nghiệm bồi dưỡng đội tuyển. Xuất phát từ các cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi nhận thấy rằng việc xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh sẽ gây hứng thú học tập từ đó nâng cao được chất lượng bồi dưỡng cho học sinh.
Nội dung Chuyên đề 1: NGUYÊN TỬ- BẢNG TUẦN HOÀN- LIÊN KẾT HÓA HỌC I. Kiến thức bổ sung 1. Cấu tạo nguyên tử 1.Thành phần nguyên tử - Nguyên tử: Gồm vỏ nguyên tử chứa e và hạt nhân chứa p và n.10-31kg ; qe = 1- mP = 1,6726.10-27kg ; qp = 1+ mn = 1,6748.10-27kg ; qn = 0 Chú ý: e=p; 1≤ ≤ 1,5 hay Z ≤ N ≤ 1,5Z - Kí hiệu nguyên tử: AZX Z = số đvđt hạt nhân= số hiệu nguyên tử= p = e. A=Z+n=P+n=e+n - Công thức tính nguyên tử khối trung bình Trong đó: là nguyên tử khối trung bình A1, A2.: là số khối mỗi đồng vị.
skkn Nếu x1, x2…: là phần trăm số nguyên tử mỗi đồng vị => x1 +x2 + .+ xn = 100% Nếu x1, x2 …: là số nguyên tử mỗi đồng vị => x1 +x2 + .+ xn = tổng số nguyên tử. Cấu hình electron nguyên tử - CH e bán bão hòa: (n-1)d5ns1 bão hòa: (n-1)d10ns1 - Số e độc thân Z= 11, 13, 17, 24, 26, 29 nguyên tố s, p, d 3. Bán kính nguyên tử 1 đvC=1u = 1,66. - Thể tích nguyên tử : ; r là bán kính của nguyên tử.
- Liên hệ giữa D vá V ta có công thức : 4. Công thức oxit cao nhất, hợp chất với hidro Nhóm IA IIA IIIA IVA VA VIA VIIA Oxit cao nhất R2O RO R2O3 RO2 R2O5 RO3 R2O7 HC với H RH (r) RH2 (r) RH3 (r) RH4 (k) RH3 (k) RH2 (k) RH (k) CT hidroxit ROH R(OH)2 R(OH)3 H2RO3 HRO3 H2RO4 HRO4 tương ứng H3RO4 5. Ion Sự hình thành cation: M Ma+ + ae (a=1,2,3) (p, n, e) (p, n, e-a) Sự hình thành anion: X + ae Xa- (a=1,2,3) (p,n,e) (p,n,e+a) II. Bài tập áp dụng Câu 1: Cho 3 nguyên tố A, M, X có cấu hình electron lớp ngoài cùng (n = 3) tương ứng là: ns1, ns2np1 và ns2np5 skkn a.Hãy xác định vị trí (Số thứ tự, nhóm, chu kỳ) của A, M, X trong bảng tuần hoàn.
Viết các phương trình phản ứng theo sơ đồ : A(OH)m + MXy → A1 ↓ + … A1 ↓ + A(OH)m → A2 (tan) + … A2 + HX + H2O → A1 ↓ + … A1 + HX → A3 (tan) + … Trong đó A, M, X là các nguyên tố tìm thấy ở câu a HD: a. A: 1s22s22p63s1: VT thuộc ô 11, chu kì 3, nhóm IA (Na) M: 1s22s22p63s23p1 : VT thuộc ô 13, chu kì 3, nhóm IIIA (Al) X: 1s22s22p63s23p5 : VT thuộc ô 17, chu kì 3, nhóm VIIA (Cl) b. NaOH + AlCl3 → Al(OH)3 + NaCl Al(OH)3 + NaOH → NaAlO2 + H2O NaAlO2 + HCl + H2O → Al(OH)3 + NaCl Al(OH)3 + HCl→ AlCl3 + H2O Câu 2: a, Hãy sắp xếp các nguyên tử và ion sau theo chiều tăng của số electron độc thân và giải thích: Mg (z = 12), P(z = 15), Cr (z= 24), S(z = 16), K(z = 19), Fe 3+(z = 26), Fe(z = 26) b. Hợp chất ion A được tạo nên từ cation M2+ và anion X2-.
Trong phân tử A tổng số hạt proton, nơtron và electron là 84 trong đó số hạt mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 28.