mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, hình ảnh, luận văn gồm ba chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và khái quát về chính sách VHNT ở Việt Nam. Thực trạng chính sách thu hút, đãi ngộ nghệ sĩ trong hoạt động NTBD ở Đồng Nai hiện nay. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách thu hút, đãi ngộ nghệ sĩ trong hoạt động NTBD ở Đồng Nai hiện nay.
- 12 - CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH VĂN HÓA NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm văn hóa, chính sách và chính sách văn hóa - Văn hóa Bàn về định nghĩa của khái niệm văn hóa, theo học giả Phan Ngọc trên thế giới có tới hơn 400 định nghĩa về văn hóa.Tylor: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con ngƣời có đƣợc với tƣ cách là một thành viên xã hội” [22, tr. Theo Federico Mayor Laragoza nguyên Tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [22, tr.
Văn hóa theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [22, tr. - 13 - Theo GS-TS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội” [22, tr.
Căn cứ vào Nghị quyết Trung ƣơng V (Khóa VIII) và Chiến lƣợc phát triển văn hóa nhằm hƣớng tới thực hiện mục tiêu tổng quát là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phạm vi của khái niệm văn hóa gắn với việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở nƣớc ta hiện nay đƣợc tác giả thể hiện trong đề tài này gồm các lĩnh vực: Tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống; văn học nghệ thuật; giao lƣu văn hóa với thế giới; các thể chế và thiết chế văn hóa. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con ngƣời phát triển toàn diện. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phƣơng diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cƣơng… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.
Tóm lại, văn hóa là một phạm trù rất rộng, bao gồm toàn bộ giá trị do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình cả trên hai lĩnh vực vật chất và tinh thần; văn hóa còn có nghĩa hẹp hơn là một lĩnh vực hoạt động; có khi chỉ là văn học nghệ thuật. - Chính sách Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1) cho rằng: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ; chính sách đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định, trên lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, - 14 - phƣơng hƣớng xác định trong đƣờng lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện vụ thể [24, tr.
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Lân trong công trình nghiên cứu Từ điển từ và ngữ Việt Nam cho rằng: Chính sách là “đƣờng lối, chủ trƣơng của một chính phủ hay một chính đảng” [38; tr. Theo PGS-TS Lƣơng Hồng Quang trong giáo trình Chính sách Văn hóa cho rằng: Chính sách là hệ thống các thể chế, các định hƣớng, các quy định tạo nên những thực hành của nhà nƣớc vào một đối tƣợng quản lý nào đó. Công cụ thực hành chính của các chính sách là luật pháp và các phƣơng pháp hành chính; ngân sách và hệ thống thuế. Các dạng tồn tại của chính sách gồm các định hƣớng mang tính nguyên tắc, các văn bản thể chế, các chính sách đầu tƣ và thuế, các phƣơng pháp hành chính khác [51, tr.
Nói cách khác, chính sách là tập hợp các chủ trƣơng, hành động về phƣơng diện nào đó của chính phủ, bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt đƣợc và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống con ngƣời nhƣ: kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trƣờng… Chính sách là sự can thiệp hay không can thiệp của nhà nƣớc nhƣng là các tác động mang tính định hƣớng cho sự phát triển, là khung thể chế cho các hoạt động trong thực tiễn. - Chính sách văn hóa Theo UNESCO thì: “CSVH (Politique culturelle) là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phƣơng pháp quản lý hành chính và phƣơng pháp ngân sách của Nhà nƣớc dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” [51, tr. - 15 - Dựa vào định nghĩa này, hội nghị bàn tròn các chuyên gia văn hóa tại Monaco (Ý) năm 1967 đã đƣa ra một quan niệm về CSVH nhƣ sau: “CSVH là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính kỹ về những can thiệp hay không can thiệp của Nhà nƣớc vào các hoạt động văn hóa nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối ƣu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực, mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp” [51, tr.
Các CSVH đều là các thực hành nhà nƣớc dựa trên các nguồn lực về tài chính, vật lực và nhân lực, trong những điều kiện có thể có của thời điểm đó. Các tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này mà triển khai các hoạt động thực thi chính sách. Cũng theo PGS-TS Lƣơng Hồng Quang: “CSVH là một hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nƣớc trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn đời sống văn hóa theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội” [51, tr. Theo Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa VIII), các chính sách đƣợc nhìn nhận ở khía cạnh thực tiễn cụ thể nhƣ: chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế; chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa; chính sách bảo tồn phát huy di sản văn hóa; chính sách ƣu đãi với những ngƣời tham gia hoạt động và hƣởng thụ văn hóa; chính sách hợp tác quốc tế… Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định: Xây dựng văn hóa là một trong bốn trọng tâm chiến lƣợc của Đảng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Nhƣ vậy, chính sách thu hút, đãi ngộ nghệ sĩ trong hoạt động NTBD là một trong những vấn đề lớn nằm trong chính sách văn hóa nói chung. Các thành tố của chính sách văn hóa gồm: Các thể chế (Luật, Nghị - 16 - định, Thông tƣ, Chỉ thị, Quyết định, Chiến lƣợc, Kế hoạch, Quy hoạch…); chính sách đầu tƣ; chính sách thuế; chính sách hiến tặng, bảo trợ, tài trợ cho VHNT; các phƣơng pháp hành chính. Khái niệm nguồn nhân lực trong tổ chức nghệ thuật biểu diễn - Nguồn nhân lực Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của con ngƣời, nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách [37, tr. Theo cách tiếp cận của Liên hiệp quốc, NNL là tất cả các kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
- Nghệ sĩ Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia): “Nghệ sĩ là ngƣời chuyên hoạt động (sáng tác hoặc biểu diễn) trong một bộ môn nghệ thuật. Nghệ sĩ là ngƣời sáng tạo ra loại hình nghệ thuật nhƣ vẽ, đồ họa, chạm khắc, chụp ảnh, làm mô hình, diễn kịch sân khấu về các ý tƣởng và cảm xúc lành mạnh với văn hóa xã hội”. Nhƣ vậy có thể nói rằng, khái niệm nghệ sĩ luôn gắn liền với khái niệm nghệ thuật. Vì vậy khái niệm nghệ sĩ phụ thuộc nhiều vào cách hiểu về nghệ thuật.
- Tổ chức nghệ thuật biểu diễn Tổ chức nghệ thuật là tổ chức có phong cách làm việc sáng tạo trong mỗi tác phẩm NTBD. Do đó, TCNTBD luôn là nơi thu hút lực lƣợng có năng khiếu bẩm sinh đặc biệt. TCNTBD là nơi giúp cho ngƣời nghệ sĩ thể hiện đƣợc năng khiếu và tìm kiếm sự thăng hoa trong mỗi vai diễn, đồng thời nó còn khuyến khích phát triển các kỹ năng khác nhau, giúp ngƣời nghệ sĩ thỏa mãn nhu cầu động cơ trong công việc. TCNTBD đề cập trong đề tài này là những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực VHNT, đó là các nhà hát, Đoàn nghệ thuật, cơ quan, đơn vị hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực NTBD.
Các tổ chức biểu diễn nghệ thuật này - 17 - hoạt động trong nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau nhƣ: cải lƣơng, ca múa nhạc, nhà hát chèo, múa rối. Mỗi TCNTBD này có chức năng, cơ cấu, nhiệm vụ, loại hình nghệ thuật hoạt động khác nhau. Ngoài ra, TCNTBD còn đƣợc gọi là đơn vị NTBD. Ở nƣớc ta, TCNTBD đƣợc phân định thuộc khu vực công lập và ngoài công lập.
Các đơn vị NTBD công lập trực thuộc Bộ VHTTDL và các Sở VHTTDL cấp tỉnh quản lý và chỉ đạo. Các đơn vị NTBD ngoài công lập là những TCNTBD tƣ nhân đầu tƣ theo phƣơng thức xã hội hóa.