phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế. - Chƣơng 2: Thực trạng chính sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Ngãi. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Ngãi. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Những nội dung liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong đó chính sách thu hút nguồn nhân lực đã có nhiều công trình nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đƣợc công bố dƣới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, luận án, luận văn và các bài viết trên sách, báo, tạp chí. “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực y tế” (2001) của Giáo sƣ Prawase Wasi, Đại học Mahidol- Thái Lan, đã xác định tầm quan trọng của việc đào tạo cho nguồn nhân lực y tế và việc phát triển nguồn nhân lực y tế gắn liền với phát triển hệ thống y tế phục vụ cho nhu cầu đổi mới. Phát triển hệ thống y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế phải dựa trên nền tảng tri thức, hay các công trình nghiên cứu khoa học rất cần thiết trong việc hoạch định chính sách. “Nguồn nhân lực y tế: Kinh nghiệm của Thái Lan” (2002) của tiến sĩ Somsak Chunharas- Viện nghiên cứu hệ thống y tế Thái Lan.
Thái Lan đã trải qua quá trình lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực y tế hơn 20 năm, kinh nghiệm này cùng với nổ lực trong việc dự báo nhu cầu về số lƣợng nhân lực y tế đã giải quyết tốt tình hình nguồn nhân lực y tế tại 5 Thái Lan. Việc nghiên cứu về các khía cạnh nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực giúp các nhà hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế có cái nhìn tốt hơn vào các vấn đề thật sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực. Đề tài khoa học do PGS. Nguyễn Phú Trọng chủ biên năm 2002: "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đề tài khoa học cấp Bộ do PGS. Nguyễn Đăng Thành chủ nhiệm (2002): "Chính sách và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách ở Việt Nam" Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học. Nguyễn Đặng (2004), Chính sách, chế độ đối với những cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội, Nhà xuất bản Lao động Thƣơng binh và xã hội.
Báo cáo “Tổng quan ngành y tế (JAHR)” về nhân lực y tế ở Việt Nam (2009), do Bộ Y tế phối hợp với Nhóm đối tác y tế (HPG), gồm đại diện các cơ quan quốc tế và một số nhà tài trợ song phƣơng, nhƣ WHO, UNICEF, UNFPA, ADB, EU, AusAID, Đại sứ quán Vƣơng Quốc Hà Lan, GTZ/KfW, USAID/PEPFAR, Pathfinder thực hiện đã tập trung vào vấn đề nhân lực y tế, cập nhật và cung cấp thông tin để phân tích thực trạng, dự báo những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới và đề xuất định hƣớng cho các giải pháp tƣơng ứng. Các vấn đề về nguồn nhân lực y tế đƣợc Quốc hội và Chính phủ thảo luận trong quá trình xem xét Luật Khám bệnh, chữa bệnh trƣớc khi Luật này đƣợc thông qua ngày 23/11/2009 và các dự thảo văn bản pháp quy khác đã đƣợc đề cập trong báo cáo, nhằm bảo đảm cho các thông tin của báo cáo đƣợc kịp thời, toàn diện và thích hợp. 6 Sổ tay về “Giám sát và đánh giá nguồn nhân lực y tế”(2009) do Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phối hợp thực hiện. Sổ tay này cung cấp cho các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách tham khảo về các tiêu chuẩn để theo dõi, quản lý và đánh giá nhân lực y tế.
Đồng thời tập hợp bộ khung phân tích, các chiến lƣợc cũng nhƣ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực y tế ở các quốc gia. Luận án chuyên khoa cấp II (2010), của tác giả Trƣơng Hoài Phong “Nghiên cứu nguồn nhân lực Y tế tỉnh Sóc Trăng” đã cho thấy môi trƣờng làm việc chƣa tốt, chính sách đãi ngộ và chính sách thu hút cán bộ y tế chƣa thỏa đáng dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực ngành y tế và chất lƣợng nhân lực ngành y tế của địa phƣơng không cao. Dự án “Chương trình phát triển nguồn nhân lực y tế” do Bộ y tế thực hiện từ năm 2010 đến năm 2015. Dự án sẽ triển khai và hỗ trợ công tác lập kế hoạch, quản lý đào tạo nhằm cải thiện năng lực chất lƣợng đào tạo cho các trƣờng đại học y, dƣợc, cao đẳng y tế.
Giúp tăng cƣờng công tác quản lý nhân lực và cải tiến cơ chế tài chính sẽ nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện các chính sách liên quan ngành y tế nhƣ: Luật Khám chữa bệnh và chi trả bảo hiểm y tế. Đề tài “Nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực y tế trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước” (2011) do PGS. Lê Quang Hoành -chủ nhiệm đề tài, đã xác định nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực y tế trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc là một vấn đề hết sức cấp thiết, nhƣng cũng rất khó khăn, nhất là trong bối cảnh tình hình trong nƣớc và thế giới có nhiều thay đổi không lƣờng trƣớc đƣợc, có nhiều chính sách đã lỗi thời, chƣa đồng bộ và còn thiếu. Đề tài đã nêu lên những điều bất cập, những khó khăn trong công tác quản lý nguồn nhân 7 lực y tế ở các cấp (trung ƣơng, địa phƣơng), các khu vực (khám chữa bệnh, dự phòng, đào tạo, công lập và ngoài công lập …); các điểm chƣa hợp lý trong các chính sách có liên quan đến quản lý nguồn nhân lực.
Một số nhóm giải pháp tổng thể và cụ thể đã đƣợc đề xuất nhằm giúp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng và tạo nguồn nhân lực y tế đảm bảo về chất lƣợng và số lƣợng cho nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Thanh (2011) “Phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Nam”, nêu vai trò mang tính quyết định của nguồn lực con ngƣời đối với sự phát triển của ngành y tế. Bài viết “Một số chính sách phát triển nguồn nhân lực việt nam hiện nay” của tác giả Vũ Ngọc Phƣơng trên tạp chí Dân số và Phát triển, số 8/2011 đã kiến nghị chọn lựa mô hình đào tạo nhân lực cho công cuộc đổi mới Việt Nam. Trong công tác phát triển nguồn nhân lực lâu dài cần phải huy động và động viên trí tuệ tập thể, sức ngƣời, sức của mới có thể thực hiện đƣợc một phần sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực đạt các chuẩn kỹ năng lao động, cũng từ nền nhân lực trình độ cao mới phát triển đƣợc nhân tài Việt Nam có đẳng cấp quốc tế.
Những kết quả và thành công của nghiên cứu khảo sát, phân loại và đề ra phƣơng pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong tình hình mới sẽ là những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nƣớc ta vào năm 2020. Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lý luận về phát triển nguồn nhân lực nói chung và ngành y tế nói riêng trong phạm vi cả nƣớc. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về chính sách thu hút nhân lực ngành y tế đối với một tỉnh nhiều đặc thù nhƣ Quảng Ngãi chƣa có tác giả nào thực hiện. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1.
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Nguồn nhân lực ngành y tế a. Khái niệm nguồn nhân lực ngành y tế Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, là tiềm năng lao động của mỗi con ngƣời trong một thời gian nhất định. NNL là động lực nội sinh quan trọng nhất, đƣợc nghiên cứu trên giác độ số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu, trong đó trí tuệ, thể lực và phẩm chất, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và sự tƣơng tác giữa các cá nhân trong cộng đồng.
NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, của địa phƣơng hay một quốc gia ở một thời điểm nhất định[8]. "Nguồn nhân lực chất lƣợng cao là nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc yêu cầu thị trƣờng, tức là có kiến thức, có kỹ năng, có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc". Nhƣ vậy, bất kỳ ngƣời lao động nào (công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sƣ, bác sĩ, giáo sƣ hay tiến sĩ) đƣợc sử dụng đúng ngành nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu tốt nhất công việc của cơ quan, doanh nghiệp cũng đều là nguồn nhân lực chất lƣợng cao[13]. Nguồn nhân lực chất lƣợng cao là những ngƣời đã đạt đƣợc một trình độ đào tạo nhất định thuộc hệ thống giáo dục đại học, nắm vững chuyên môn nghề nghiệp, có khả năng làm việc độc lập, tổ chức triển khai những công trình quan trọng với phƣơng pháp khoa học, công nghệ tiên tiến[13].
Trƣớc hết cần hiểu cho đúng thế nào là nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Theo tác giả, nguồn nhân lực chất lƣợng cao không đồng nghĩa với học hàm, học vị cao, nghĩa là nếu một ngƣời nào đó cho dù có học hàm, học vị cao 9 nhƣng lại không có đóng góp gì thực sự có giá trị về mặt khoa học trong suốt quá trình công tác giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học thì không đƣợc gọi là nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Ngƣợc lại, những ngƣời không hề có học hàm, học vị cao, thậm chí chỉ là ngƣời công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ có trình độ trung cấp, hay kỹ sƣ, cử nhân, nhƣng nếu họ lại có tay nghề hay chuyên môn rất giỏi về một lĩnh vực nào đó, đáp ứng tốt nhất yêu cầu công việc và có những đóng góp thực sự có giá trị cho xã hội thì đó chính là nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Vì vậy, nguồn nhân lực chất lƣợng cao là những ngƣời có khả năng hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc, cho xã hội.