Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu: 1.1 Khái niệm về bệnh viện Theo tài liệu của của tổ chức y tế thế giới (WHO) đề cập đến nhiều khái niệm bệnh viện. Theo WHO bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình; bệnh viện cũng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế và trung tâm nghiên cứu Y học. Trong thời gian gần đây bệnh viện được coi là một tổ chức xã hội chủ chốt trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội. Đó là nơi chẩn đoán, chữa trị bệnh tật cũng như là nơi người ốm dưỡng bệnh và phục hồi sức khỏe[34].
Bệnh viện hay nhà thương là cơ sở để khám và chữa trị cho bệnh nhân khi bệnh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác. Các chức danh nghề nghiệp bác sĩ Nội và Ngoại khoa, điều dưỡng , hộ sinh, kỹ thuật viện y. Bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng bảo đảm cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh. Công tác ngoại trú của bệnh viện toả tới tận gia đình.
Còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu y xã hội học. Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bào gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị và cơ sở hạ tầng để phục vụ người bệnh. Theo quan điểm hiện đại bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và là một tổ chức động: + Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. 6 + Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan chằng chịt từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán điều trị chăm sóc.
+ Bệnh viện là một tổ chức động bào gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có chẩn đoán và điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc người bệnh tử vong[28].2 Khái niệm về nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa “ Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trục tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y.) kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp[34].
Theo địnhu nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi tham gia và là “ Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập ( bao gồm cả quân y ), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân ( nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn)[11]. Theo WHO[35]nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích nâng cao sức khỏe của người dân. Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu có thể về số nhân viên y tế chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương.
Cụ thể hơn WHO định nghĩa nhân viên y tế mà những người hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe. Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế bao gồm: Bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý[28].3 Quan niệm về quản lý và điều hành nhân lực y tế Quản lý nhà nước và điều hành về nhân lực y tế được tiến hành ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố, huyện và cấp cơ sở (bệnh viện, các TTYT, viện, trường.) với các đặc điểm và vai trò khác nhau: Với sự chỉ đạo của cấp trên, cấp cơ sở ( huyện, xã) có trách nhiệm hướng dẫn và thường xuyên theo dõi, giám sát để cho tất cả các NVYT thực hiện tốt trách nhiệm của họ và các nhiệm vụ được xác định trong bảng mô tả công việc và phù hợp với các thủ tục điều hành công việc; quản lý nhân sự và các hoat động liên quan đến nhân sự ở cấp cơ sở, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là tạo động lực, bảo đảm môi trường làm việc hỗ trợ được công việc của nhân lực y tế; đề xuất việc huy động các nguồn lực và các nguồn tài trợ để nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ[11]. Sử dụng công cụ quản lý kết quả làm việc trong quản lý nhân sự Dù Nhà nước khuyến khích trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động[14].Nhưng hiện nay các cơ sở y tế chưa phát huy được hiệu quả các cơ chế đó. Các cơ sở y tế vẫn chủ yếu bị phụ thuộc vào các quy định về tổ chức, biên chế và tiêu chí cán bộ từ trên đưa xuống[11].
Biện pháp giám sát công việc dựa trên bảng mô tả chức năng nhiệm vụ của từng nhân viên là biện pháp quản lý được sử dụng trong nhiều cơ sở y tế trên thế giới, nhưng chưa được áp dụng ở nhiều cơ sở y tế ở Việt Nam. Một số vấn đề cần quan tâm là việc mô tả nhiệm vụ của cán bộ y tế thường chưa được rõ ràng, cho nên việc thực hiện đánh giá thực hiện công việc giao còn khó khăn, điều này đã có tác động xấu tới động cơ hoàn thành tốt công việc. Những người làm việc tốt không được đánh giá thích hợp để có chế độ động viên khuyến khích phù hợp và những người làm không tốt cũng chưa có kỷ luật tương xứng[17].4 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của một tổ chức do chính bản chất của con người, nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh.
Quản lý nguồn nhân lực là việc quản lý con người ở một đơn vị tổ chức, một công ty, một doanh nghiệp. Điều này bao gồm tất cả các chính sách, các điều lệ, các tiêu chuẩn tuyển chọn, huấn luyện, đánh giá và trả công cho nhân viên, kể cả các quan tâm về công bằng, phúc lợi, sức khỏe và an toàn lao động[17]. Trong một tổ chức “Quản lý nguồn nhân lực” là hệ thống quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn sử dụng trong quản lý con người (Quản lý nhân lực) của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên. Quản lý nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản lý con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: Sử dụng có hiệu quả nguồn lực của tổ chức.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức[22]. Quản trị nhân sự là lĩnh vực theo dõi, hưỡng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất, bao gồm các công việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển nguồn lao động trong các tổ chức. Quản trị nhân sự là một nghệ thuật.5 Vai trò quản lý nguồn nhân lực Quản trị nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường. Tầm quan trọng của quản trị nhân lực trong tổ chức xuất phát từ vai trò quan trọng của con người.
Con người 9 là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn nhân lực không thể thiếu được của tổ chức nên quản lý nhân lực chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức. Mặt khác quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy đến cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người. Trong thời đại ngày nay, quản trị nhân lực có tầm quan trọng ngày càng tăng vì những lý do sau: Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nên các tổ chức muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tổ tổ chức của mình theo hướng tinh giảm gọn nhẹ, năng động trong đó yếu tố con người mang tính quyết định.
Bởi vậy việc tìm đúng người phù hợp để giao đúng việc, đúng cương vị đang là vấn đề đáng quan tâm đối với mọi loại hình tổ chức hiện nay. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển của nền kinh tế buộc các nhà quản trị phải biết thích ứng. Do đó việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân sự trong tổ chức nhằm đạt hiệu quả tối ưu là vấn đề phải quan tâm hàng đầu[20].