ĐẶT VẤN ĐỀ Trong hệ thống y tế nƣớc ta, y tế tuyến cơ sở chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, là nơi trực tiếp chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, có chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt thì sức khoẻ cộng đồng mới đƣợc nâng cao, các nguy cơ bệnh tật sẽ giảm xuống, góp phần giảm đƣợc chi phí và thời gian đi lại cho ngƣời dân, giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, hạn chế đƣợc các dịch bệnh xảy ra tại địa phƣơng, đó là mục tiêu và cũng là chiến lƣợc trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nƣớc ta. Hƣởng ứng lời kêu gọi “ Sức khỏe cho mọi ngƣời ” Việt Nam đã thực hiện Chiến lƣợc chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng, thể hiện cam kết của chính phủ nƣớc ta theo tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế thế giới[31]. Mạng lƣới y tế cơ sở là nơi ngƣời cán bộ y tế tiếp xúc đầu tiên với ngƣời bệnh, ngƣời dân tại cộng đồng, để phát hiện những vấn đề sức khỏe, bệnh tật và những nguy cơ về môi trƣờng, tham mƣu cho Đảng và chính quyền địa phƣơng triển khai những giải pháp can thiệp kịp thời, không ngừng nâng cao sức khỏe của ngƣời dân. Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chủ trƣơng, chính sách về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chú trọng nhiều đến hệ thống y tế ở tuyến cơ sở, trong đó có Chỉ thị số 06 CT/TW ngày 21/1/2002 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về cũng cố và hoàn thiện mạng lƣới cơ sở[1], Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tƣớng Chính phủphê duyệt Chiến lƣợc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010[15], Quyết định số 122/2013/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Chiến lƣợc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020[17]và Quyết định số 2348/2016/QĐ-TTg ngày 05/12/2016 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc xây dựng và phát triển mạng lƣới y tế cơ sở trong tình hình mới[19], đã quan tâm chú trọng đến việc cũng cố và phát triển y tế cơ sở hiện nay.
Nhƣng thực tế do điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập vào cơ chế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, từ đó một số chính sách y tế chƣa hợp lý và còn bất cập nên kết quả hoạt động y tế tuyến xã còn hạn chế. 2 Tuyến y tế xã của huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, thuộc huyện vùng đồng bằng sông Cửu Long và Khu tây Nam bộ, y tế cơ sở hiện nay vẫn chƣa thực sự hoạt động tốt đồng bộ, một số xã còn thiếu phƣơng tiện, nhân lực và trang thiết bị y tế thiết yếu, cơ sở vật chất bị xuống cấp, kinh phí hoạt động, trình độ chuyên môn và tổ chức quản lý ở một Trạm Y tế còn chƣa thực sự vững mạnh. Để tiếp tục cũng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của y tế xã, năm 2002 lần đầu tiên Bộ Y tế ban hành Quyết định số 370/BYT ngày 07/07/2002 về việc ban hành Bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010[6] và Quyết định số 4667/BYT ngày 07/11/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành Bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020[9]. Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 2348/2016/QĐ-TTg ngày 05/12/ 2016 về việc xây dựng và phát triển mạng lƣới y tế cơ sở trong tình hình mới[19]và thực hiện Chỉ thị 06 của Ban Bí Thƣ Trung ƣơng Đảng về cũng cố và hoàn thiện mạng lƣới y tế cơ sở[1].
Trong điều kiện thuận lợi đó, cùng với cả nƣớc tỉnh Trà Vinh đã triển khai thực hiện quyết định của Bộ Y tế về “Chuẩn quốc gia y tế xã” vào năm 2002. Trong đó, huyện Càng Long triển khai quyết định này vào năm 2003 và duy trì thực hiện chuẩn quốc gia y tế xã theo Quyết định số 4667/BYT ngày 07/11/2014 của Bộ Y tế đến năm 2020. Qua hơn 10 năm thực hiện chủ trƣơng này huyện cũng gặp không ít những khó khăn, việc thực hiện chuẩn quốc gia y tế xã có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, đầu tƣ các nguồn lực cho y tế cơ sở còn hạn chế, kết quả hoạt động chăm sóc sức khỏe tuy có bƣớc cải thiện nhƣng chất lƣợng chƣa cao, để có cơ sở cho việc cũng cố và hoàn thiện mạng lƣới y tế cơ sở theo chuẩn quốc gia y tế xã. Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:“Đánh giá kết quả và một số thuận lợi – khó khăn trong thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã tại huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh năm 2017”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã của huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh năm 2017. Phân tích một số thuận lợi – khó khăn trongthực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xãcủa huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh năm 2017. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Vài nét về tình hình chăm sóc sức khỏe nhân dân tuyến cơ sở trên thế giới Hƣởng ứng tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 của TCYTTG “Chăm sóc sức khỏe cho mọi ngƣời” các nƣớc trên thế giới đã triển khai 8 nội dung cơ bản chăm sóc sức khỏe ban đầu cho ngƣời dân tại cộng đồng và kêu gọi chính phủ các nƣớc, đặc biệt chú trọng các nƣớc chậm và đang phát triển quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ ngân sách và cam kết thực hiện nội dung CSSKBĐ. Tại các nƣớc, cần phải huy động sự tham gia của tất cả các thành viên trong xã hội, các ban ngành đoàn thể quần chúng cùng tham gia bảo vệ và nâng cao sức khỏe của ngƣời dân[31]. Vài nét về tình hình chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam Trong quản lí sức khỏe toàn dân theo mục tiêu của TCYTTG “Sức khỏe cho mọi ngƣời đến năm 2020”, tuyến y tế cơ sở đƣợc coi là tuyến chủ yếu thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Với hệ thống y tế Việt Nam, mạng lƣới y tế cơ sở có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt.
Do đó, việc xây dựng và cũng cố phát triển hệ thống y tế Việt Nam, đặc biệt là mạng y tế cơ sở theo hƣớng dự phòng tích cực, thực hiện chiến lƣợc CSSBKĐ, đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình hình mới hiện nay và thời bình cũng nhƣ thời chiến đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta quan tâm. Việt Nam đƣợc ghi nhận đạt đƣợc nhiều chỉ tiêu về xã hội tốt hơn so với các nƣớc khác cùng mức thu nhập trong khu vực, mặc dù vẫn còn những chỉ tiêu thấp hơn mức trung bình chung của các nƣớc trong khu vực và Thế giới. Tỷ suất tử vong trẻ em dƣới 1 tuổi năm 2015 là 14/1.000 trẻ đẻ ra sống và tuổi thọ trung bình năm 2015 đã đƣợc nâng lên là 74 tuổi[14]. Tỷ lệ này bằng mức các nƣớc đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đây là một thành tựu quan trọng của chƣơng trình y tế Việt Nam thông qua sự triển khai quản lí dịch vụ CSSK cho nhân dân rộng khắp từ Trung ƣơng đến cơ sở.Một số chính sách có liên quan đến hệ thống y tế Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, với chủ trƣơng tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lƣợng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đáp ứng 5 yêu cầu của chiến lƣợc phát triển con ngƣời, tăng đầu tƣ của nhà nƣớc và tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lƣới y tế cơ sở, y tế dự phòng, có chính sách trợ giúp các đối tƣợng ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp đƣợc tiếp cận y tế[4].
Trong thời gian qua, Đảng Nhà nƣớc từ Trung ƣơng và địa phƣơng ban hành nhiều văn bản hƣớng dẫn các qui định chính sách nhằm tăng cƣờng công tác CSSK nhân dân, đặc biệt là những chính sách nhằm cũng cố mạng lƣới y tế cơ sở, đó là: - Ngày 14/01/1993 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VI đã ban hành Nghị quyết 4 về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân[2]. - Chỉ thị số 06 CT/TW ngày 22/1/2002 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về cũng cố và hoàn thiện mạng lƣới y tế cơ sở[1]. - Nghị quyết số 46 NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới[3]. - Quyết định số 35/2001/TTg ngày 19/03/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt chiến lƣợc chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 [15].
- Quyết định số 122/2013/QĐ-TTg ngày 10/01/ 2013 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lƣợc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020[17]. - Quyết định số 370/BYT ngày 07/07/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành Bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010[6]. - Quyết định số 4667/BYT ngày 07/11/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành Bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020[9]. - Quyết định số 2348/2016/QĐ-TTg ngày 05/12/ 2016 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc xây dựng và phát triển mạng lƣới y tế cơ sở trong tình hình mới[19].
- Nghị quyết số 04/2010/NQ-HĐND, ngày 09/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Trà Vinh về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thƣờng xuyên ngân sách địa phƣơng năm 2010[29]. 6 - Quyết định số 484/QĐ-UBND, ngày 01/4/2011 của UBND tỉnh Trà Vinh về việc qui định mức thu một phần viện phí các dịch vụ kỹ thuật y tế áp dụng tại các tram y tế xã, phƣờng thị trấn trên địa bàn tỉnh[30]. - Kế hoạch số 02/SYT-KHTC, ngày 12/01/2012 của Sở Y tế vể việc thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia y tế xã tỉnh Trà Vinh giai đoạn năm 2011-2020 [24]. - Kế hoạch số 24/KH-TTYT, ngày 22/3/2015 của Trung tâm Y tế huyện Càng Long về việc thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia y tế giai đoạn đến 2020[33].
Hệ thống y tế ở Việt Nam Hệ thống y tế Việt Nam đƣợc chia thành 4 tuyến: Tuyến Trung ƣơng, tuyến Tỉnh, tuyến Huyện và tuyến Xã. Trong tuyến xã bao gồm Trạm Y tế xã và y tế thôn bản, y tế cơ sở bao gồm y tế tuyến huyện và y tế tuyến xã, cấu trúc hệ thống y tế Việt Nam hiện nay bao gồm y tế Nhà nƣớc và y tế tƣ nhân, y tế Nhà nƣớc vừa thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe, vừa thực hiện chức năng quản lí Nhà nƣớc trong lĩnh vực y tế.