Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm chính sách Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Chính sách là hành động của giới lãnh đạo, quản lý đề ra nhằm mục đích giải quyết một vấn đề nào đó trong phạm vi, thẩm quyền của mình. Trong thực tiễn, chính sách được đề ra và đưa vào tổ chức thực hiện với nhiều tầng, nấc khác nhau về phạm vi và đối tượng, như chính sách của: một đảng, chính phủ, chính quyền địa phương, một tổ chức, một doanh nghiệp… Theo tác giả Nguyễn Khắc Bình “Chính sách là những hành động của chủ thể quyền lực đối với các hiện tượng đang tồn tại trong quá trình vận động phát triển để hướng tới mục đích nhất định của chủ thể quyền lực” [3].
Trong cuốn “Kỹ năng phân tích và Hoạch định chính sách”, của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái niệm “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [39, tr. Tuy có nhiều cách lập luận khác nhau, nhưng về bản chất thì tất cả đều hàm chứa nét chung: nhà nước là chủ thể ban hành chính sách, chính sách gồm nhiều quyết định có liên quan, nhằm hướng vào giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống theo những mục tiêu xác định để phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, quốc gia – dân tộc. 10 Trong luận văn này, tôi sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc Bình: Chính sách là những hành động của chủ thể quyền lực đối với các hiện tượng đang tồn tại trong quá trình vận động phát triển để hướng tới mục đích nhất định của chủ thể quyền lực. - Khái niệm chính sách công Khái niệm chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những góc nhìn khác nhau, chính vì lẽ đó mà có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm, thuộc tính của chính sách công, cụ thể như: Theo quan điểm của Thomas R.Dye (năm 1972) thì chính sách công rất thực tế, đó là “tất cả những gì Chính phủ quyết định thực hiện hoặc không thực hiện” [34, tr.
Từ đó có thể thấy, chỉ có những hoạt động mà chính quyền làm hoặc không làm mà nó có tác động, làm ảnh hưởng lâu dài và trực tiếp đến nhân dân thì mới là chính sách công. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng: toàn bộ những hoạt động của chính quyền có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống của mọi người thì mới gọi là chính sách công. Đối chiếu, so sánh với quan điểm của Thomas R.Dye, thì rõ ràng quan niệm sau cởi mở hơn, rộng hơn ở nội dung xem việc xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách của chính quyền đều là chính sách công. Tuy nhiên, quan niệm này lại có phần giới hạn hơn và hẹp hơn khi xem những việc chính quyền không làm là chính sách công.
Trong cuốn “Chính sách công” (sách chuyên khảo) của hai tác giả PGS. TS Phạm Quý Thọ và ThS Nguyễn Xuân Nhật, nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông Hà Hội năm 2014, các tác giả đưa ra khái niệm chính sách công như sau: “chính sách công là những định hướng mục tiêu và biện pháp hành động, được Nhà nước lựa chọn và ban hành như một công cụ quản lý của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề công cộng được lựa chọn, và được thực thi bởi các chủ thể có thẩm quyền” [34, tr. 11 Còn theo tác giả Nguyễn Khắc Bình định nghĩa chính sách công như sau: “Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [3]. Ở Việt Nam, khái niệm về chính sách công mặc dù đã được đề cặp nhiều, nhưng đa phần được hiểu theo lối đồng nghĩa, đồng nhất với chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc chính sách của Nhà nước, đều đó là do nước ta chỉ có một chính đảng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhà nước.
Chính vì vậy, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra cũng chính là chính sách của Nhà nước, được Chính phủ cụ thể hóa thành văn bản chính sách trong tổ chức thực hiện để phục vụ nhu cầu, lợi ích của đại đa số nhân dân. Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm về chính sách công của tác giả Nguyễn Khắc Bình: Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. - Khái niệm thực hiện chính sách Có thể hiểu thực hiện hay thực thi chính sách là giai đoạn đưa các ý định chính sách ở dạng lý luận của các nhà cầm quyền vào tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội thông qua hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước nhằm đạt mục tiêu chính sách của nhà cầm quyền đề ra. Nói cách khác, là giai đoạn vận dụng những giải pháp định trước vào thực tiễn cần giải quyết để đạt được các mục tiêu chính sách, nhằm giải quyết những nhu cầu của xã hội, của nhân dân.
Chính vì vậy, việc thực thi chính sách chính là quá trình giải quyết những nhu cầu bức thiết của đời sống xã hội, của nhân dân theo những mục tiêu đã định của nhà cầm quyền. 12 Ở giai đoạn thực hiện chính sách, đòi hỏi phải huy động rất nhiều nguồn lực khác nhau như: nhân lực, vật lực, tài chính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào hoạt động có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Song, ở giai đoạn thực thi chính sách thông thường phải chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau, có thể làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện; yếu tố đặc biệt quan trọng để đảm bảo sự thành công của chính sách là việc tổ chức thực hiện, duy trì và điều chỉnh chính sách. - Khái niệm nhân lực Nhân lực là một thuật ngữ trừu tượng chỉ sự đóng góp lao động của con người (khác với máy, động vật.) hoặc số lượng đơn vị năng xuất nhân lực sẵn có/cần cho một nghề hoặc nhiệm vụ; đồng thời, thuật ngữ nhân lực cũng thường được dùng chỉ cá nhân như nhân sự (ví dụ thiếu hụt nhân lực).
Nói đến nhân lực là nói đến tất cả những tiềm năng của con người trong một tổ chức hoặc trong một xã hội nhất định, nghĩa là tất cả những thành viên trong tổ chức sử dụng những kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của mỗi thành viên nhằm mục đích thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Tóm lại, có thể hiểu nhân lực là toàn bộ sức lực của mỗi con người và làm cho con người có khả năng lao động, sản xuất. Sức lực của con người có thể ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động; nhưng cũng có thể giảm đi theo thời gian hoặc do không được bổ sung, bồi dưỡng. - Khái niệm thu hút nhân lực Trong quá trình quản trị và phát triển nhân lực gồm các nhóm chức năng chủ yếu sau: thu hút, đào tạo và phát triển, duy trì nhân lực.
Có thể hiểu, thu hút nhân lực là một trong những giai đoạn của chuổi quá trình quản trị nhân lực nhằm tuyển dụng những người có đủ tiêu chuẩn để đáp ứng 13 được tối đa các yêu cầu đặt ra đối với lực lượng lao động xã hội khi được tuyển dụng vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức. Do sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: kinh tế - xã hội, mức thu nhập, trình độ học vấn, địa bàn sinh sống, vị trí xã hội. từ đó nhân lực có mong muốn thay đổi nơi làm việc (thay đổi cơ quan, địa phương công tác). Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, điều kiện đi lại thuận tiện, chính sách thu hút nhân sự bằng nhiều ưu đãi.
đã tạo điều kiện khuyến khích nhân lực có nhu cầu thay đổi vị trí việc làm hiện tại nhiều hơn, họ monjg muốn có được việc làm phù hợp nhất với bản thân mình và được thụ hưởng nhiều lợi ích nhất. Bất cứ cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nào thì việc tuyển dụng, thu hút nhân lực bao giờ cũng từ nhiều nguồn khác nhau như: từ các cơ sở đào tạo, từ các cơ quan, tổ chức, địa phương khác; từ nguồn lao động tự do khác. Việc thu hút, bổ sung mới nhân lực góp phần quan trọng để kích thích, phát huy hiệu quả của tính cạnh tranh cạnh tranh với nhân lực tại chỗ, là một nghệ thuật trong quản trị nguồn nhân lực, từ đó có thể tuyển dụng được lực lượng nhân lực (người lao động) có chất lượng cao nhất, đáp ứng được kỳ vọng của nhà quản lý. - Khái niệm nhân lực chất lượng cao Khi đề cặp đến khái niệm nhân lực chất lượng cao, thì hầu hết các học giả, nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: cần phải xác định các tiêu chí để chỉ rõ đó là nhân lực chất lượng cao.
Một số quan điểm nhìn nhận rằng nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; là những người có trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao. Tuy nhiên, cũng có quan điểm thì cho rằng nhân lực chất lượng cao là đội ngũ những người có trình độ đại học, lãnh đạo quản lý và hoạch định chính sách, khoa học công nghệ. Như vậy dựa trên những tiêu chí nào để đánh giá là nhân lực chất lượng cao? Không phải tất cả những người đã qua đào tạo ở trình độ cao đều đáp 14 ứng các công việc, do đó không thể khẳng định nhân lực chất lượng cao chỉ dựa trên tấm bằng, chứng chỉ học vấn, nghề nghiệp mà là ở chất lượng đào tạo, tay nghề, kỹ năng lao động để làm ra các sản phẩm có chất lượng cao.