Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm về chính sách, cán bộ, công chức và chính sách phát triển cán bộ, công chức 1. hái niệm chính sách Theo Từ điển ti ng Việt thì “chính sách” là “sách lược và k hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực t mà đề ra”. Nhà nước qu n lý xã hội bằng nhiều biện pháp, trong đó có chính sách.
Hoạt động qu n lý nhà nước gắn liền với hoạt động ban hành và triển khai chính sách, tùy theo góc độ ti p cận mà chính sách được định vị từ những góc nhìn khác nhau. Điểm lưu ý ở đây là, chính sách ph i là quy t định đã được lựa chọn thực hiện, không ph i một dự định; Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm gi i quy t một vấn đề (Anderson 1984); Chính sách là những gì mà chính phủ làm, lý do làm, và sự khác biệt nó tạo ra (Dye 1972); là những gì mà chính phủ làm, hoặc bỏ qua không làm (Klein & Marmor 2006); một hành động mang tính quyền lực nhà nước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ưu tiên (Considine 1994); Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể ch công để k t nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi (Considine 1994); là quá trình mà một xã hội tạo ra và quy t định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không (Wheelan 2011); Chính sách là một phần của khung khổ các ý ki n, mà qua đó, chúng ta được điều chỉnh bởi một cách thức hợp lý, giữa các khía cạnh đa chiều của cuộc sống (Colebatch 2002) [17] 11 Chính sách là cách thức nhà nước kiểm soát và điều hành các thực thể của đời sống kinh t , xã hội theo những mục tiêu đã đặt ra. Theo đó, chính sách là một công cụ kiểm soát và điều hành của chủ thể là nhà nước. Nhà nước tác động đ n đời sống kinh t , chính trị, xã hội và kiểm soát chung theo những mục đích mà nhà nước đã đặt ra.
Đồng tình với cách ti p cận này, giáo trình phân tích và hoạch định chính sách của Học viện hành chính Quốc gia cho rằng chính sách là một tập hợp các quy t định của nhà nước, do nhà nước ban hành để gi i quy t những vấn đề n y sinh từ đời sống kinh t và xã hội. Theo đó, chính sách gồm một số phần cơ b n, đó là mục tiêu của chính sách và các phương thức thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Đây cũng chính là k t cấu của một chính sách. Các quan niệm trên tuy có cách ti p cận khác nhau nhưng đều thừa nhận 03 điểm chung của chính sách: Thứ nhất, chính sách là s n phẩm của nhà nước.
Nói cách khác, nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công để thực hiện các chức năng qu n lý nhà nước của mình. Thứ hai, chính sách là công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động đ n các đối tượng trong xã hội ở mọi lĩnh vực. Thứ ba, chính sách được thể hiện dưới dạng những quy t định, luật và các văn b n khác của nhà nước. Tóm lại, từ những phân tích nói trên, có thể hiểu chính sách là một tập hợp các quy t định do nhà nước ban hành như một công cụ qu n lý nhà nước để tác động đ n các đối tượng khác nhau trong xã hội nhằm đạt được mục tiêu mà nhà nước đã đặt ra.
hái niệm cán bộ, công chức Theo Luật cán bộ, công chức [2], được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, tại Kho n 1, 2 và 12 Kho n 3 Điều 4 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” “ Cán bộ xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” 1. hái niệm chính sách phát tri n cán bộ, công chức Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “ Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một 13 thới gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. B n chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối nhiệm vụ chính trị, kinh t , văn hóa,…”[20, tr.135] Chính sách phát triển cán bộ, công chức là một trong những chính sách công.
Vì vậy để hiểu khái niệm chính sách phát triển cán bộ, công chức trước h t ph i hiểu chính sách công là gì? Chính sách công, một ngành khoa học có tính ứng dụng cao song được nghiên cứu ở nước ta chưa lâu. Chính vì vậy mà nhiều vấn đề cốt lõi của ngành khoa học này vẫn còn được tranh luận một cách sôi nổi. Trong những vấn đề đó có vấn đề khái niệm chính sách công. Nhằm góp phần làm rõ vấn đề này, bài viết tập trung làm rõ khái niệm chính sách công dựa trên cách tiếp cận quyền lực và trong sự so sánh với chính sách tư.
Trên th giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công. Có thể kể đ n một số định nghĩa tiêu biểu sau: Chính sách công theo Thomas Dye: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”; B. Guy Peter định nghĩa: "…chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có nh hưởng trực ti p hay gián ti p đ n cuộc sống của mọi công dân"; theo Charle L. Cochran and Eloise F.
Malone thì : “ Chính sách công bao gồm các quy t định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội”; Clarke E. Cochran lại cho rằng: “ Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ (chính quyền) và những ý định quy t định hành động này; hoặc chính sách công là k t qu của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai dành được cái gì”. Birkland quan niệm rằng: “Chính sách như là một tuyên bố của chính phủ - ở bất kỳ mức nào - về những gì nó dự định làm về một vấn đề công cộng” Ở nước ta, cũng có nhiều quan niệm rất khác nhau về chính sách công, có thể kể ra đây một số định nghĩa đáng chú ý sau: 14 Từ điển bách khoa Việt nam cho rằng : “ chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”.
Nguyễn Hữu H i quan niệm rằng: “Chính sách công là k t qu ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quy t định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức gi i quy t những vấn đề công trong xã hội”. Viện Chính trị học cho rằng: “ …chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng”, một tập thể các tác gi khác lại cho rằng: “ Chính sách công là một tập hợp những quy t định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và gi i pháp để gi i quy t một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển”. Với những phân tích trên có thể hiểu một cách chung nhất: Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng. Từ những quan điểm về chính sách công nói chung ở trên có thể đưa ra quan điểm: Chính sách phát triển cán bộ, công chức là tập hợp các quyết định có liên quan với nhau của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có cơ cấu, số lượng hợp lý, có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo mục tiêu đã xác định.
Chính sách phát triển cán bộ, công chức bao gồm một số nội dung cơ b n. Thứ nhất là xây dựng, phát triển lực lượng cán bộ, công chức đủ đ m b o theo quy định về biên ch , nhu cầu công việc của bộ máy nhà nước. Nói cách khác là chính sách phát triển cán bộ, công chức trước h t ph i gắn liền với khâu tuyển dụng cán bộ, công chức phù hợp.