Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”.[32] Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”[29] Theo Vũ Cam Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.[17] Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” đã cho thấy có những đặc điểm cơ bản sau: - Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; - Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; - Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Khái niệm về chính sách công 8 Trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công. Tuy nhiên, Birkland (2005) đã giúp thu thập và tổng hợp những quan điểm phổ biến về chính sách công, theo ông, có 3 cách hiểu cơ bản: - “Chính sách công nhằm chỉ các hành động của chính phủ và các mục tiêu cân nhắc các hành động này (Clarke E. Cochran và một số tác giả khác).
- “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị đối với các chương trình đang thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu xã hội” (Charles L. Cochran và Eloise T. - “Chính sách công là toàn bộ hoạt động của chính phủ, bất kể là hoạt động trực tiếp hay thông qua các tổ chức nhà nước, có ảnh hưởng đến công dân” (B. Có một định nghĩa gần đây cũng được thế giới chấp nhận một cách rộng rãi.
Đó là định nghĩa của William Jenkin, theo ông, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”. Đó là: + Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công. Nhà nước ở đây được hiểu là bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp. + Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực hiện các dự định đó.
+ Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định. Kế thừa những tư duy và đúc kết của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ Phú Hải của Học viện Khoa học xã hội đã đưa ra một khái niệm về 9 chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. Như vậy, mỗi khái niệm có một cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, nội hàm của chúng có một số điểm chung, cụ thể: + Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; + Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau; + Chính sách công có mục tiêu, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề xã hội nhằm hướng tới một mục tiêu chung. Chính sách công có các thuộc tính căn bản như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định.
Khái niệm về đào tạo Có nhiều cách định nghĩa về đào tạo. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thì “đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [61]. Đào tạo còn được hiểu là quá trình giáo dục, thực hiện những nhiệm vụ của giáo dục quốc dân (đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học) [60]. Tại Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD công chức giải thích: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp 10 nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” [13].
Đào tạo giúp CBCC tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng mới để đạt trình độ cao hơn trình độ trước đó. Như vậy, đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống; là quá trình làm cho người ta có năng lực đáp ứng theo những tiêu chuẩn, đòi hỏi nhất định, trang bị kiến thức, kỹ năng giúp họ có khả năng làm việc, nhận một sự phân công lao động nhất định. Khái niệm về bồi dưỡng Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về công tác ĐTBD công chức giải thích: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [13]. Khái niệm bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ sung thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng.
Có thể nói bồi dưỡng là một hoạt động thường được tiến hành sau hoạt động đào tạo cho cá nhân, để bổ sung, cập nhật thêm kiến thức chuyên môn, một số kiến thức mới cần được trang bị trong thời gian ngắn hạn trên nền tảng kiến thức đã được đào tạo. Như vậy, ĐTBD được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho người ta học tập, để chỉ một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc học tập nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình thông qua tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản là con người, làm họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ. Về mặt thời gian, đào tạo có thời gian thực hiện dài hơn, thông thường là từ hai năm trở lên, bồi dưỡng có thời gian thực hiện ngắn hơn, thông thường là từ vài ngày đến vài tuần. Về cơ bản, đào tạo được xem là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực 11 theo những tiêu chuẩn nhất định”; bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”.
Nhìn chung, cả đào tạo và bồi dưỡng đều là quá trình làm cho người ta thông qua học tập, rèn luyện trau dồi, bổ sung nâng cao năng lực của bản thân để họ làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn giúp họ phát huy tối đa năng lực của bản thân đáp ứng nhu cầu của bản thân và yêu cầu của tổ chức [7]. Một số quan điểm về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD CBCC Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD, trọng dụng nhân tài được tìm thấy ở trong những tác phẩm lớn của Người: Đường Kách mệnh (1927), Tìm người tài đức (1946), Sửa đổi lối làm việc (1947), Đào tạo cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969) … Đặc biệt, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ, đào tạo cán bộ thể hiện ngay trong việc làm, tính gương mẫu, tấm gương đạo đức, cách đối nhân xử thế của Người. Tư tưởng về vấn đề cán bộ, công tác cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng lý luận và hoạt động thực tiễn đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, bao hàm cả việc khai thác, phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ và trọng dụng nhân tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [30, tr. 269], “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [30, tr. 240], việc “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [30, tr.
269], nội dung huấn luyện cần tập trung “Huấn luyện nghề nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận. Học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế” [35]. Người cho rằng cán bộ là vốn của Đảng, có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu 12 có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi.
Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn; “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời cán bộ là người đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [30, tr. Thực tế, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do cán bộ nghiên cứu, đề xuất, đồng thời, do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện.