Chương 1: Giới thiệu. Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tải, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, tông quan cơ sở lý thuyết và bố cục luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Tác giả trình bày các lý thuyết về sự hải lòng trong công việc, động lực làm việc, truyền hình, lược khảo các.
nghiên cứu trước đây về sự hài lòng trong công việc ở trong nước và ngoài nước. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này, trình bảy quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng, xác định bằng câu hỏi chính thức đề thực hiện khảo sát.
Chương 4: ết quả nghiên cứu. Từ các dữ liệu thu thập được thông qua bảng câu hỏi chính thức, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 25 để phân tích dữ liệu; trong chương này, tác giả tập trung trình bay kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan, phân tích hồi quy bội, kiểm. tra các giả định của mô hình hồi quy, phân tích phương sai ANOVA và cuối cùng là thảo luận kết quả. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
Nội dung chương này là trình bày kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các giải pháp cho các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện môi trường làm việc tại đơn vị. Ngoài ra tác giả cũng nêu lên những hạn chế của đề tải trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨ 2. Tổng quan vé CBCCVC 2.
Khái niệm cán bộ. Cán bộ là công dân Việt Nam được bằu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung. ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Luật số 22/2008/QH12 của Quốc hội, Luật Cán bộ công chức) 2. Khái niệm công chức Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương.
cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phỏng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự. nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nươc, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm tử quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (”uđt số 22/2008/QH12 của Quốc Hội, Luật Cán bộ, công chức) 2. Khái niệm viên chức Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ. quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý.
LY THUYET VE HAI LONG TRONG CÔNG VIỆC 2. Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về sự bài long trong công việc. Theo Cambridge Leamers Diedonary: Mức độ hài lòng trong công việc là những cảm. giác dễ chịu có được khi con người ta nhận được một cái gì đó mà con người ta mong muốn hoặc làm điều gì đó mà con người ta muốn làm.
Đối với Hoppock (1935) cho ring su hai long trong công việc là tổng hợp sự hài lòng về mặt tâm sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ (4zửi, 201). Theo cách tiếp cận này, mặc dù sự hài lòng chịu ảnh. hưởng của các yếu tố bên ngoài, nhưng nó vẫn là một cái gì đó mang tính chất nội bộ làm thế nào cho các nhân viên cảm thấy được các yếu tố gây ra một cảm giác hài lòng. 'Vroom (1964) khái niệm sự hài lòng trong công việc là tập trung vào vai trò của CBCCVC tại nơi làm việc.
Vì vậy ông cho rằng sự hải lòng trong công việc là trạng thái mà CBCCVC có định hướng hiệu quả, rõ ràng đối với công việc trong tổ. Kế tiếp, Weiss và công sự (1967) cho rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thê hiện bằng cảm nhận, niềm. tin và hành vi của CBCCVC, sau đó: Locke (1969) có khái niệm việc làm hài lòng. trong công việc là cảm xúc thú vị do đánh giá công việc của một người là đạt được hoặc tạo thuận lợi cho việc đạt được các giá trị của một công việc.
“Theo Lawler (1973) định nghĩa rằng hài lòng công việc được xác định bởi sự khác biệt giữa tắt cả những điều một người cảm thấy mình nên nhận được từ công. việc của mình và tắt cả những điều thực sự không nhận được. Kế tiếp, Locke (1976) cho răng sự hài lòng trong công việc là cảm xúc tích cực hoặc kinh nghiệm trong công việc của CBCCVC bằng cách so sánh kỳ vọng của một người từ công việc và những gì mà họ thực sự đạt được. Sau đó Quinn và Staines (1979) khái niệm về sự.
hài lòng trong công việc là tỉnh cảm hoặc cảm xúc của CBCCVC đối với công việc. 'Với Smith (1983) khái niệm về sự hài lòng trong công việc là cảm giác mà người lao động cảm nhận về công việc của họ. Riêng Spector (1985) định nghĩa sự 12 hai lòng công việc là mức độ mà những người thích (sự hải lòng) hoặc không thích (không hài lòng) công việc của họ. Tuy nhiên, Lambrou (2010) đã mô tả sự hải lòng.
công việc là một trạng thái vui hay tích cực, do việc đánh. ủa sự trải nghiệm công việc hoặc kinh nghiệm công việc của một người. “Theo Ivancevich và cộng sự (1997) khái niệm sự hải lòng trong công việc đề cập đến thái độ, mối quan tâm của CBCCVC với công việc là kết quả nhận thức công việc và mức độ gắn kết giữa các cá nhân với tô chức. Trong khi đó, một số tác giả khác cho răng sự hài lòng do ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân người lao động.
hoặc do các tác động của tổ chức đối với các cảm nhận của họ về công việc (Bergmann, 1981 dẫn theo Ludgdy, 2005). Tuy nhiên, sự hài lòng dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng khái niệm về sự hài lòng trong công việc luôn gắn liền với những yếu tổ như: Tình cảm, cảm giác. về tâm lý sau khi nhu cầu của cán bộ, viên chức được hài lòng, thái độ đối với nhà. quản lý; mong đợi của cán bộ, viên chức về khả năng quản lý từ phía lãnh đạo; kết quả thực hiện và các giá trị do đơn vị mang lại.
Nhìn từ wg thể các khái niệm trên, tác giả nhận thấy khái niệm sự hải lòng. trong công việc là công chức, viên chức hải lòng với công việc của mình, phát huy tối đa năng lực của mình đối với tổ chức, song saong đó là sự thể hiện về mặt cảm xúc và thái đô của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc. Môi trường làm việc đáp ứng được nhu cầu, giá trị và tính cách của công chức viên chức thì sự hải lòng trong công việc cảng cao, song song đó sự hải lòng trong công việc giúp các nhà quản trị có cách nhìn khái quát hơn về sự hài lòng của toàn thể nhân viên đối với tổ chức của mình. Định nghĩa sự hải lòng trong công việc là một khái niệm rất rộng, bởi nhìn ở nhiều góc độ khác nhau sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau.
Do vậy, việc đánh giá có hài lòng hay không hải lòng, tiêu cực hay tích cực của một người còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận và đánh giá của bản thân người lao động. Điều này có nghĩa là việc đánh giá sự hài lòng hay không hài lòng đối với công việc của CBCCVC là một sự tổng hợp phức tạp của nhiều yếu tố công việc riêng biệt (Nguyễn Hữu Lam, 1998). l3 Tuy nhiên, trong số các khái niệm trên, nghiên cứu sự hài lòng đối với từng khía cạnh công việc sẽ giúp cho nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhat (Deconinck vé Stilwell C. Sự hài lòng đối với từng khía cạnh công việc Theo Smith, Kendall va Hulin (1969), mức độ hải lòng với từng khía cạnh trong công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của công chức, viên chức vẻ các khía cạnh khác nhau trong công việc bao gồm: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và phát triển, lãnh đạo, đẳng nghiệp, tiền lương.
Staples va Higgins (1998) cho rằng sự hải lòng trong công việc được cảm. nhận thông qua phạm vi công việc và tắt cả những biểu hiện tích cực của họ với môi trường làm việc. Trong khi đó Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) khái niệm sự hài lòng trong công việc như là sự phản ứng về mặt tỉnh cảm hay cảm xúc của nhân viên đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc. Tác giả quan tâm đến các nguyên nhân của sự hải lòng trong công việc bao gồm: vị tri công việc, sự giám sát của cắp trên, mỗi quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng kê cả sự thăng tiến, điều kiện vật chất và cơ cấu tô chức.
Đồng thời, Spector (1997) cho rằng sự hài lòng trong công việc là việc người nhân viên thấy thích công việc và các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ, xem sur hai lòng trong công việc như một biến hành vi. Sự hai long trong công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh chung của công việc. Đối với Ellickson va Logsdon (2002) ủng hộ quan điểm này bằng cách khẳng định sự hai lòng trong công việc là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, dựa trên nhận thức của nhân viên về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.