chương 1 Do khởi nghiệp mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế và xã hội, cần thiết phải có những nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của nhóm người trẻ để có thể thúc đẩy những cá nhân có khả năng thực hiện khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung vào sự chuyển đổi từ công việc trả lương sang lựa chọn khởi nghiệp. Chính vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu xem xét liệu rằng có phải sự thiếu vắng đặc điểm tạo ra động lực làm việc nội tại trong công việc hiện tại sẽ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của người trẻ thông qua trung gian sự hài lòng công việc, cũng như kiểm tra sự hiện diện của tác động điều tiết của thái độ đối với hoạt động khởi nghiệp của một cá nhân lên sự chuyển hóa từ sự không hài lòng công việc hiện tại thành ý định khởi nghiệp của người đó. 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ giải thích các khái niệm: Lựa chọn sự nghiệp, ý định khởi nghiệp, sự hài lòng công việc, thái độ đối với khởi nghiệp trong mô hình nghiên cứu .Đồng thời trình bày các lý thuyết nền tảng để xây dựng nên mô hình, bao gồm: Mô hình đặc điểm công việc JDM và mô hình sự kiện khởi nghiệp EEM.
Dựa trên những nghiên cứu trước đây, tác giả sẽ lập luận để thiết lập nên các giả thuyết của mô hình nghiên cứu. Lựa chọn sự nghiệp (Career choice) Lựa chọn nghề nghiệp hay sự nghiệp là một trong những lựa chọn có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của mỗi người. Sự ảnh hưởng này không chỉ đến từ việc con người dành nhiều thời gian cho công việc hơn nhiều so với các hoạt động khác trong cuộc sống, mà còn bởi vì lựa chọn nghề nghiệp ảnh hưởng đến phong cách sống và việc điều chỉnh công việc có liên quan mật thiết đến sức khỏe tinh thần và thậm chí thể chất (Levi, 1990; Osipow, 1986). Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra các mô hình lý thuyết về lựa chọn và phát triển sự nghiệp của mỗi cá nhân.
Trong đó, khởi đầu và được sử dụng nhiều nhất là hướng tiếp cận liên quan đến tính cách và các yếu tố trong công việc. Các lý thuyết theo hướng tiếp cận này nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của sự hòa hợp giữa yêu cầu công việc và đặc điểm cá nhân (sở thích, năng lực, tính cách) đến lựa chọn nghề nghiệp và sự hài lòng với công việc. Hướng tiếp cận thứ hai bao gồm các lý thuyêt về sự học tập (learning theory), trong đó sở thích, giá trị công việc và các kỹ năng ra quyết định lựa chọn sự nghiệp được phát triển theo thời gian nhờ vào các các trải nghiệm mang tính công cụ, liên kết và học tập gián tiếp. Các lý thuyết này cho thấy quá trình phát triển sự nghiệp có thể được học tập và thay đổi theo thời gian.
12 Liên quan đến các lý thuyết về nhận thức, đặc biệt là thuyết hiệu quả bản thân (Self- efficacy theory) (Bandura, 1977), hướng tiếp cận của Hackett và Betz (1981) cho rằng cảm nhận về năng lực bản thân có khả năng dự đoán hành vi lựa chọn nghề nghiệp tốt hơn nhiều so với các biến năng lực khách quan hay được sử dụng. Tổng kết lại, lựa chọn nghề nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi ba nhóm yếu tố: cá nhân (nhân khẩu học, các yếu tố tâm lý); xã hội (hình mẫu lý tưởng, sự ủng hộ của gia đình, văn hóa) và kinh tế (cơ hội việc làm, mạng lưới nguồn lực) (Dyer Jr, 1995). Một chuỗi các lựa chọn nghề nghiệp sẽ tạo nên con đường sự nghiệp của mỗi cá nhân. Theo đề xuất của Super (1954), một cá nhân có thể trải nghiệm con đường sự nghiệp theo bốn kiểu mẫu, bao gồm: ổn định (stable), khi cá nhân lựa chọn và tham gia nghề nghiệp sớm và cố định; nhiều lần thử nghiệm (multiple trial), chuyển từ nghề nghiệp ổn định này sang nghề nghiệp ổn định khác; truyền thống (conventional), thử sức với nhiều lựa chọn trước khi chọn một nghề nghiệp cố định; và không ổn định (unstable), gồm một chuỗi những lựa chọn mang tính thử nghiệm mà không có khái niệm về sự cố định.
Trong đó, những người thay đổi nghề nghiệp, biểu hiện của kiểu hình với nhiều lần thử nghiệm, được thúc đẩy bởi động lực nội tại để tìm kiếm sự nghiệp hàm chứa nhiều hoạt động nghề nghiệp có ý nghĩa và phù hợp với các giá trị cá nhân (Shamir & Arthur, 1989). Con đường sự nghiệp theo dạng này thường được hình thành bởi những người trưởng thành, ở độ tuổi từ 25-30 tuổi, với nhiều khái niệm thực tế được định hình rõ ràng hơn nhờ vào kinh nghiệm cuộc sống dồi dào. Ngoài ra, người trưởng thành còn có thể sử dụng những trải nghiệm về sự thành công trong công việc để làm cơ sở lên kế hoạch cho những sự chuyển tiếp trong sự nghiệp (Gianakos, 1999). Sự nghiệp có thể được định nghĩa là một chuỗi các lựa chọn cá nhân trong suốt quãng đời liên quan đến những khả năng nghề nghiệp khác nhau (Costa và cộng sự, 2016).
Những khả năng nghề nghiệp mà một người có thể lựa chọn trên con đường sự nghiệp có thể được chia làm hai loại chính: công việc được trả lương (organizational/dependent employment), bao gồm các công việc trong các công ty, tổ chức, có phân công công việc 13 cụ thể dưới hệ thống vận hành theo cấp bậc, vị trí việc làm; tự làm chủ (self- employment), liên quan đến các hoạt động khởi nghiệp, tự xây dựng doanh nghiệp của riêng mình. Lựa chọn công việc được trả lương luôn là lựa chọn phổ biến hơn có ít rủi ro và đơn giản hơn lựa chọn khởi nghiệp. Bên cạnh đó, lựa chọn này thường xuất hiện ở quãng đầu của con đường sự nghiệp do sự giới hạn lựa chọn tạo ra do thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác về nhu cầu, năng lực và giá trị cá nhân. Sau vài năm tham gia vào thị trường lao động, những cá nhân đã phát triển các đánh giá chính xác hơn về khả năng, nhu cầu cá nhân và giá trị bản thân hướng tới.
Từ đó, hình thành nên các “mỏ neo sự nghiệp”, làm cơ sở để lựa chọn ngã rẽ tiếp theo trên con đường sự nghiệp (Schein, 1978; 1990). Trong đó, lựa chọn khởi nghiệp được đặc trưng bởi sự hiện diện của ba “mỏ neo” liên quan đến: sự sáng tạo; sự tự chủ và tự do; sự bất ổn và rủi ro. Ý định khởi nghiệp (Entrepreneurship Intention) Ý định khởi nghiệp là một trạng thái tinh thần dẫn dắt đến việc lựa chọn sự nghiệp của một cá nhân, trong đó cá nhân có xu hướng chọn lựa làm việc cho chính bản thân mình hay tự làm chủ hơn là làm việc cho một ai đó hoặc một tổ chức nào đó. Nếu như khởi nghiệp được định nghĩa là một quy trình hình thành nên một tổ chức doanh nghiệp, thì ý định khởi nghiệp là tối quan trọng để bắt đầu bắt đầu quy trình đó.
Ý định khởi nghiệp là điểm khởi nguồn và là chỉ báo cho hàng loạt các hành vi tiếp nối liên quan đến việc thành lập một doanh nghiệp (Fishbein & Ajzen, 1977). Về góc độ tâm lý, ý định khởi nghiệp, cũng như các ý định trong các bối cảnh khác, đều là nhân tố dự đoán tốt nhất cho hành vi dự định mà cụ thể ở đây là hành vi khởi nghiệp (Bagozzi & Bluedorn, 1989). Một người có tiềm năng khởi nghiệp do có những tố chất về sự hiệu quả và khả năng cá nhân nhưng lại không thể chuyển đổi tiềm năng đó thành những hoạt động khởi nghiệp do thiếu vắng ý định khởi nghiệp (Krueger Jr và cộng sự, 2000). 14 Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của một người có thể chia làm ba nhóm chính: đặc điểm cá nhân, động lực bên ngoài và yếu tố về bối cảnh.
Đã có nhiều nghiên cứu về những đặc điểm về tính cách đặc trưng, dự đoán ý định khởi nghiệp của một người, những đặc điểm tính cách này được tổng hợp thành lý thuyết Năm nhân tố tính cách (Big Five Personality Factors), bao gồm: Định hướng về thành tựu (achievement-oriented), sáng tạo (innovative), tự chủ (autonomy), nhu cầu kiểm soát (locus of control) và chấp nhận rủi ro (risk tolerance) (Athayde, 2009). Những nhân tố tính cách này không chỉ đến từ tự nhiên mà cũng có thể đến từ việc giáo dục. Ngoài ra, một người lựa chọn khởi nghiệp là để tìm kiếm các động lực làm việc bên ngoài như nhu cầu vể tài chính, địa vị… Về yếu tố bối cảnh, một cá nhân sẽ có ý định khởi nghiệp cao hơn tại nơi có môi trường kinh doanh tạo nhiều điều kiện cho các đơn vị khởi nghiệp (về luật pháp, giấy tờ hành chính, ưu đãi thuế…) hoặc sâu xa hơn là nền văn hóa – xã hội khuyến khích việc khởi nghiệp và tiếp cận với giáo dục khởi nghiệp từ sớm thông qua trường lớp hoặc gia đình (Kuratko, 2005; Schmitt-Rodermund, 2004). Các yếu tố vi mô xuất phát trong đời sống cũng là những nhân tố tiềm năng dự đoán ý định khởi nghiệp, ví dụ như sự không hài lòng công việc, sự không hài lòng trong cuộc sống… Các hành vi thường khó được dự đoán chỉ bằng thái độ hoặc chỉ bằng các yếu tố ngoại lai về bối cảnh hay đặc điểm cá nhân (nhân khẩu học hay tính cách).
Theo các nghiên cứu về hành vi dự định của Ajzen, từ ý định có thể dự đoán hành vi và các yếu tố về thái độ sẽ dự đoán những ý định đó (Jeno & Diseth, 2014). Chính vì vậy, ý định khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa các yếu tố ngoại lai tiềm ẩn với hoạt động khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai đến ý định và hành vi khởi nghiệp cũng chỉ là gián tiếp, thông qua sự thay đổi thái độ đối với đối tượng, cụ thể ở đây là các hoạt động khởi nghiệp. Vì lý do đó, các mô hình về ý định khởi nghiệp cung cấp góc nhìn chi tiết hơn để dự đoán và giải thích hoạt động khởi nghiệp.
Tiêu biểu cho mô hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp là mô hình hành vi dự định của Ajzen (1991) và mô hình sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982). Sự hài lòng công việc (Job Satisfaction) Sự hài lòng công việc là sự kết hợp của bất kỳ những nhân tố tâm lý, vật chất và môi trường làm cho một cá nhân cảm thấy thật sự hài lòng với công việc của họ (Hoppock, 1935).