Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương này trình bày lý do thực hiện đề tài, tổng quan về các nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, tiến độ thực hiện và bố cục của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương này giới thiệu các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tổng quan lý thuyết, tóm tắt các nghiên cứu đã thực hiện trước đó. Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên quản lý chất lượng tại Công ty TNHH Starite International Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu và quy trình xây dựng thang đo, cách đánh giá và kiểm định thang đo cho các khái niệm trong mô hình, kiểm định sự phù hợp của mô hình và kiểm định các giả thuyết đề ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày các kết quả rút ra từ nghiên cứu, bao gồm: mô tả dữ liệu thu thập được, tiến hành đánh giá và kiểm định thang đo, kiểm định sự phù hợp của mô hình, và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này tổng kết quá trình và kết quả chính của nghiên cứu, từ đó đề xuất hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác quản lý nhân sự sao cho đem lại sự hài lòng công việc nhất cho nhân viên quản lý chất lượng. Bên cạnh đó luận văn cũng nêu lên những đóng góp của đề tài về mặt thực tiễn, và những hạn chế cùng với đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo.
11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các khái niệm và lý luận về sự hài lòng công việc. Các lý luận này là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu, xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng công việc. Bên cạnh đó chương này cũng sẽ giới thiệu một số nghiên cứu trước đây của một số tác giả trong và ngoài nước, đó cũng là một trong những cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng mô hình nghiên cứu và xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng công việc của nhân viên. Các khái niệm về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng 2.
Khái niệm về sự hài lòng công việc Theo từ điển Oxford Advanced learners’ Dictionary thì sự hài lòng công việc được định nghĩa là khi nhân viên được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc. Nghiên cứu của Weiss (1967) đưa ra định nghĩa về sự hài lòng trong công việc đó chính là thái độ của người làm đối với công việc của mình thông qua hành vi, cảm nhận và niềm tin của người lao động đối với công ty mình làm việc. Theo Smith (1983) đã chỉ ra sự hài lòng với nơi làm việc chỉ đơn giản là cảm giác mà người lao động cảm nhận về nơi làm việc của họ. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc, nhưng nhìn chung sự hài lòng công việc được định nghĩa theo hai khía cạnh là sự hài lòng chung trong công việc và sự hài lòng của người lao động khi làm việc thích thú, thoải mái đối với các khía cạnh công việc của mình.
Sự hài lòng của nhân viên đối với môi trường làm việc tại một doanh nghiệp là thái độ thích hoặc không thích của nhân viên đối với môi trường đó, nó thể hiện mức độ chấp nhận, thỏa mãn của nhân viên về kết quả mà họ nhận được khi thực hiện công việc. Và thể hiện rõ nhất thông qua sự gắn kết và lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nhân viên đối với một doanh nghiệp và mỗi nhân viên các 12 yếu tố ảnh hưởng có thể khác nhau tùy vào động cơ, mong muốn, kỳ vọng của từng người. Hiện nay có rất nhiều lý thuyết đưa ra về động cơ nào là quan trọng hay ảnh hưởng nhiều hơn đối với nhân viên trong một doanh nghiệp, nổi bật như thuyết nhu cầu của Maslow và thuyết hai nhân tố của F.
Tóm lại, khi nhu cầu và mong muốn của con người trong môi trường công việc được đáp ứng thích đáng thì sự hài lòng của người lao động được tăng lên; Và sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào (Spector, 1997). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên Sự hài lòng công việc của nhân viên đối với công việc được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh là đo lường chung bằng một câu hỏi và đo lường sự hài lòng đối với từng yếu tố thành phần của công việc và tập hợp lại. Nghiên cứu sự hài lòng chung giúp cho các nhà quản trị có cái nhìn khái quát về sự hài lòng chung của người lao động đối với tổ chức. Bên cạnh nghiên cứu sự hài lòng chung, việc nghiên cứu sự hài lòng theo các yếu tố thành phần của công việc sẽ giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn về các đặc điểm thành phần của công việc tác động đến sự hài lòng của nhân viên.
Tuy nhiên ở nghiên cứu này, tác giả muốn nhấn mạnh sự hài lòng đối với các yếu tố thành phần của công việc, để từ đó nhà quản trị biết được sự đánh giá cụ thể của nhân viên đối với từng yếu tố và có biện pháp tác động thích hợp. Đã có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của người lao động theo nhiều cách khác nhau và cách phân loại các yếu tố thành phần công việc cũng khác nhau. Cụ thể thang đo mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) của Smith et al., (1969) thiết lập 05 yếu tố trong chỉ số mô tả công việc JDI: Đặc điểm công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp và tiền lương. Cách phân loại này phản ánh đầy đủ các khía cạnh công việc và nhân viên tiếp xúc, tuy nhiên theo tác giả nhận thấy yếu tố đồng nghiệp là yếu tố mà nhà quản lý khó tác động.
Đối với nghiên cứu của Foreman Facts (Viện quan hệ lao động NewYork, 1946), sự hài lòng của nhân viên bao gồm sự hài lòng về 10 yếu tố, như sau: kỹ thuật 13 khéo léo; sự đồng cảm với các vấn đề cá nhân người lao động; công việc thú vị; được tương tác và chia sẻ trong công việc; an toàn công việc; điều kiện làm việc; lương; được đánh giá đầy đủ các công việc đã thực hiện; trung thành cá nhân đối với cấp trên; thăng tiến và phát triển nghề nghiệp. Mô hình Mười yếu tố động viên được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng cho đề tài nghiên cứu của mình: Kovach (1980, 1984), Bob Nelson, Blanchard Training & Development (1991), Silverthorne (1992), Sheryl & Don Grimme GHR Training Solutions (1997-2001), Cynthian D. Fisher & Anne Xue Ya Yuan (1998) sử dụng để nghiên cứu trên nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Nga: Bảng 2. Xếp hạng của người lao động tại các nước về 10 yếu tố động viên (Nguồn: Cynthian D.
Fisher & Anne Xue Ya Yuan, 1998) Từ Bảng 2.1 cho thấy sự khác biệt về quan điểm và cách nhìn nhận mức độ quan trọng của 10 yếu tố đã nêu trên, trong khi Trung Quốc coi yếu tố “Trung thành cá nhân đối với tổ chức” là quan trọng nhưng đối với Mỹ thì yếu tố này không quan trọng (chỉ xếp ở vị trí thứ 8 trong 10 yếu tố). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự không 14 thống nhất trong đánh giá và cảm nhận của người lao động trên có thể là do sự khác biệt về văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) đã áp dụng thang đo chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) của Smith et al., (1969) với 05 yếu tố: Đặc điểm công việc; Cơ hội đào tạo và thăng tiến; Lãnh đạo; Đồng nghiệp; Tiền lương. Đồng thời, tác giả đã đề xuất bổ sung thêm 02 yếu tố: phúc lợi và điều kiện làm việc.
Sau khi kiểm định, còn lại 04 yếu tố làm nhân viên tại Việt Nam hài lòng: tiền lương, đồng nghiệp, lãnh đạo và cơ hội thăng tiến (thông qua nghiên cứu tại Công ty cổ phần giấy Tân Mai). Khái niệm về quản lý chất lượng và nhân viên quản lý chất lượng 2. Khái niệm về quản lý chất lượng Theo quan niệm của nhà khoa học người Mỹ A.Feigenbaum: “Quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách kinh tế nhất, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng”. Tuy nhiên, khái niệm quản lý chất lượng của tổ chức ISO được sử dụng phổ biến hơn cả.
Tổ chức ISO cho rằng: “Quản lý chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”. Khái niệm về nhân viên quản lý chất lượng Nhân viên quản lý chất lượng là người trực tiếp thực hiện việc kiểm tra chất lượng các công đoạn trong quá trình sản xuất để loại bỏ những khiếm khuyết về vật tư ở đầu vào cũng như những sản phẩm kém chất lượng ở đầu ra của cả quy trình sản xuất. Các công việc chính của nhân viên quản lý chất lượng bao gồm: lập kế hoạch kiểm tra. Trực tiếp quản lý các tài liệu liên quan tới mua, bán hàng, nghiệm thu, các 15 tiêu chuẩn khách hàng và quản lý chung.
Hướng dẫn áp dụng, đôn đốc các đơn vị thực hiện theo đúng tiêu chuẩn chất lượng, quy trình, quy định, biểu mẫu v.v được ban hành. Thường xuyên kiểm tra giám sát các công đoạn của quá trình sản xuất. Lưu hồ sơ các hạng mục kiểm tra. Lập các báo cáo về sự không phù hợp xảy ra trong quá trình kiểm tra.
Lập các báo khắc phục và phòng ngừa trong quá trình sản xuất, kiểm tra.