CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về đổi mới sáng tạo và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Cơ sở lý thuyết về đổi mới sáng tạo 1. Khái niệm đổi mới sáng tạo Do vòng đời của sản phẩm ngày càng bị rút ngắn đáng kể qua các năm, theo Ehie và Olibe (2010), đã dẫn đến mức độ cạnh tranh của thị trường ngày càng trở nên khốc liệt.
Chính vì vậy, hoạt động ĐMST cũng đang dần trở thành những mối quan tâm hàng đầu của DN, khi mà ảnh hưởng của ĐMST có thể tác động trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển bền vững của tổ chức. Salter và Alxey (2014) nhận định, chủ đề ĐMST đã và đang thu hút được rất nhiều sự chú ý từ các nhà nghiên cứu trên đa dạng lĩnh vực như tâm lý học, xã hội học, quản trị và kinh tế. Sáenz và Aramburu (2011, tr. 89) cho rằng “Không tồn tại một định nghĩa duy nhất và được chấp nhận phổ biến về đổi mới sáng tạo, nhưng hầu hết các định nghĩa hiện có đều đồng ý rằng đổi mới sáng tạo có nghĩa là hình thành và thực hiện một cái gì đó mới”.
Ngược lại, Lee và Tsai (2005, tr. 328) khẳng định rằng “Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đổi mới. Tuy nhiên, đáng chú ý phải kể đến các nghiên cứu về khái niệm, bản chất và vai trò của hoạt động đầu tư ĐMST, hoạt động nghiên cứu phát triển, mối quan hệ giữa các hình thức đổi mới sáng tạo và định hướng phát triển lâu dài của công ty hay với kết quả kinh doanh”. Vào thế kỷ 20, Joseph đã tiếp cận thuật ngữ “ĐMST - Innovation” theo nghĩa rộng như sau: “ĐMST có thể là sản phẩm, quá trình và các thay đổi của tổ chức chứ không nhất thiết phải bắt nguồn từ các phát minh khoa học mới, mà có thể kết hợp những công nghệ hiện có hoặc ứng dụng các công nghệ này trong một bối cảnh mới”.
D’Aveni (1994) cũng có góc nhìn tương tự về ĐMST, rằng “Đổi mới sáng tạo là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới để đáp ứng các yêu cầu do sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ hay mô hình cạnh tranh”. ĐMST là một quy trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau, hoạt động ĐMST xuất phát từ khâu nghiên cứu và tạo lập dự án cho đến việc tìm kiếm giải pháp áp dụng công nghệ và thực hiện thương mại hóa. Tuy nhiên, nhóm chúng tôi cũng xin lưu ý rằng, định nghĩa ĐMST (innovation) và phát minh (invention) là hoàn toàn khác nhau hai thuật ngữ này không thể dùng thay thế cho nhau. Nói một cách rõ ràng hơn, chỉ khi nào mà DN có thể biến một phát minh thành một sản phẩm mới, tức là những phát minh đó được bán ra ngoài thị trường và có thu về giá trị lợi nhuận cho công ty, thì đó mới được gọi là ĐMST.
Điều đó đồng nghĩa với việc, không phải bất cứ phát minh nào cũng hướng đến mục đích nhu cầu của khách hàng, hay có thể thỏa mãn được thị hiếu của người tiêu dùng Damanpour và Wischnevsky (2006) cho rằng, “ĐMST là sự phát triển và áp dụng ý tưởng mới trong tổ chức. Ý tưởng mới có thể là một sản phẩm mới, dịch vụ hoặc phương pháp sản xuất ( đổi mới kỹ thuật), hoặc là một thị trường, cơ cấu tổ chức hoặc hệ thống quản trị mới ( đổi mới quản trị )”. Thông qua một loạt những khái niệm được nêu ở trên, có thể dễ dàng thấy rằng khả năng ĐMST là một hiện tượng phức tạp đòi hỏi sự trao đổi nguồn lực và chuyên môn thông qua các mối quan hệ với các tác nhân quan trọng khác, vì tự bản thân mỗi một công ty hầu như không thể sở hữu đủ nguồn lực cần thiết để có thể tạo ra giá trị cho khách hàng thông qua các hoạt động đổi mới. Tuy nhiên, khái niệm ĐMST mà nhóm tác giả cho là có sự tương thích gần nhất với bài nghiên cứu là này là của Twiss & Twiss (1980) với quan điểm rằng ĐMST được tiếp cận dưới góc độ là một quy trình có liên quan mật thiết đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, và được biểu hiện thông qua việc áp dụng quỹ R&D với mục đích đạt được hiệu quả kinh tế.
Khái niệm năng lực đổi mới sáng tạo Wang và Ahmed (2004) phát biểu rằng năng lực ĐMST được hiểu là “Tổng thể các khả năng đổi mới sáng tạo của tổ chức trong quá trình tạo ra các sản phẩm mới, tiếp cận thị trường mới thông qua chiến lược định hướng trong quy trình và hành động”. Hay có thể nói, năng lực ĐMST được phần nào thể hiện qua định hướng của tổ chức trong việc tham gia, tìm kiếm, phát triển những ý tưởng mới, quy trình mới nhằm mục đích tạo ra các sản phẩm mới, cung cấp những dịch vụ mới hoặc thậm chí là phát triển thêm công nghệ mới. Hiện nay, cuộc chạy đua sáng tạo đổi mới được diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, khả năng sáng tạo và mức độ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật lại phụ thuộc vào năng lực và nguồn lực của bản thân mỗi doanh nghiệp.
Ngoài ra, năng lực ĐMST cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ quan điểm của nhà quản lý, chế độ chính sách của tổ chức hay tầm nhìn của ban lãnh đạo DN về hoạt động này. Romijn & Albaladejo (2002) đã chỉ ra trong bài nghiên cứu rằng năng lực ĐMST chính là những vốn kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết để có thể tiếp nhận, áp dụng, nâng cấp công nghệ hiện có và phát triển chúng lên một tầm cao mới. Nhìn chung, năng lực ĐMST của tổ chức sẽ hình thành từ quá trình hiện thực hóa các cơ cấu, hệ thống, quy trình của tổ chức. Tóm lại, năng lực ĐMST có thể được xem là bắt nguồn từ các yếu tố nguồn lực của DN khi thực hiện hoạt động đổi mới với mục đích tạo ra kết quả đổi mới sáng tạo”.
Phân loại đổi mới sáng tạo Tổ chức OECD và Eurostat (2005) đã đưa ra giả thiết chia ĐMST thành bốn kiểu đổi mới bao gồm: (1) đổi mới sản phẩm, (2) đổi mới quy trình, (3) đổi mới marketing và (4) đổi mới tổ chức -Đổi mới sản phẩm: là sản xuất ra sản phẩm hoàn toàn mới cho khách hàng, hoặc cải tiến cải tiến các sản phẩm hiện có để kích thích mức độ tiêu dùng của họ. Nói cách khác, nhiều sản phẩm mới và khác nhau được tung ra thị trường bởi các công ty khác nhau, làm cho khách hàng ngày càng có nhiều sự lựa chọn phù hợp và gần hơn với sở thích của họ. Do đó, các doanh nghiệp cần áp dụng ĐMST để tạo ra không gian mới trong một thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay. Đổi mới có thể giúp các công ty tăng doanh số bán sản phẩm trên thị trường, dẫn đến mức hiệu suất cũng có thể được cải thiện.
-Đổi mới quy trình: là ứng dụng những thay đổi về thiết bị, phương pháp hoặc công nghệ, phần mềm được sử dụng trong sản xuất, phân phối, bán hàng để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các quy trình với công nghệ mới có thể phần nào thúc đẩy DN nâng cao năng suất, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ nhu cầu của khách hàng. -Đổi mới marketing: là việc thực hiện một phương thức tiếp thị mới có chưa từng được áp dụng hoặc sử dụng trước đây trong doanh nghiệp. Thông thường, hoạt động đổi mới này sẽ bao gồm các nghiệp vụ có liên quan đến xác định phân khúc khách hàng, định hướng thị trường và quảng bá sản phẩm.
-Đổi mới tổ chức: là việc DN triển khai vận hành một cách thức tổ chức mới hoặc cải tiến cơ cấu tổ chức hiện đang áp dụng trong nội bộ DN. Nếu áp dụng đổi mới tổ chức có hiệu quả, DN có thể thu về những kết quả rất đáng khả quan như tăng hiệu suất nhờ việc cắt giảm chi phí hành chính và chi phí giao dịch, tăng năng suất lao động, củng cố thêm niềm tin của đội ngũ nhân viên dành cho DN. Bên cạnh đó, đổi mới tổ chức cũng được xem như là một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy tinh thần làm việc theo nhóm, thu hẹp khoảng cách quyền lực giữa người sử dụng lao động và nhân viên, đồng thời khuyến khích sự năng động, sáng tạo riêng biệt của từng cá nhân trong DN. Khác với cách phân loại ở trên, bài nghiên cứu của Durant, (1992) lại chia ĐMST thành hai loại cơ bản bao gồm: sáng tạo đột phá (radical) và sáng tạo gia tăng (incremental).
Ta có thể hiểu sáng tạo gia tăng là việc cải tiến một quy trình sẵn hay chỉ đơn giản là một sản phẩm đã có sẵn, theo Twiss và Twiss (1980). Kết quả của cải tiến sáng tạo thường là xây dựng lên một hệ thống vận hành trơn tru và đạt hiệu suất cao hơn, khả năng thỏa mãn thị trường cũng tốt hơn bằng việc cung cấp các sản phẩm gần hơn với tiêu chuẩn thị hiếu của người tiêu dùng. Ngược lại với đó, theo (Hindo, 2007) thuật ngữ sáng tạo đột phá lại đang được hiểu như là sự một thách thức đầy khó khăn đối với và quy trình và các sản phẩm hiện có của DN, bởi nó đòi hỏi cần phải có sự xuất hiện của một công nghệ mới. Tuy nhiên, nhóm tác giả này cũng khẳng định rằng, không phải bất kì loại sáng tạo đột phá nào cũng được nhìn nhận là một cuộc cách mạng mang tính toàn diện, tương tự, sáng tạo gia tăng không đồng nghĩa với việc chỉ xuất hiện một biến đổi nhỏ.
Trên thực tế, có những loại sáng tạo nằm có một vài đặc điểm của cả 2 loại ĐMST trên. Do đó, Henderson,(1990) và Abernathy (1985) đã xây dựng một khung lý thuyết để nhận dạng và phân biệt ĐMST dựa trên những tác động có ảnh hưởng đến DN, mối liên kết với tệp khách hàng của DN và thị trường mục tiêu mà tổ chức đó hướng đến. Thước đo lường ĐMST Theo tìm hiểu của nhóm tác giả, vấn đề đo lường năng lực ĐMST đã được Ahmed đã thực hiện vào năm 2004, đây là một trong những công trình tiên phong đầu tiên trong việc giải quyết cho câu hỏi “Liệu có cách nào có thể để đo lường năng lực ĐMST của DN hay không?